Saturday, 26 March 2016

Tại sao Trái Đất lại có dạng hình cầu?

Tại sao Trái Đất có hình cầu?

Trai Dat hinh cau
Trái Đất có dạng hình cầu
Trái Đất (cũng như các hành tinh khác và các vì sao) có hình cầu bởi vì dạng hình cầu là trạng thái năng lượng thấp nhất mà nhóm vật chất có thể kết hợp thành. Các thiên thạch nhỏ và các mặt trăng có thể ở dạng không giống hình cầu, nhưng sau khi chúng đã đạt được một kích cỡ nhất định (khi lực hấp dẫn có thể phá vỡ đất đá mà đã tạo nên chúng). Tất cả các vật chất bị kéo lại với nhau và chúng trở nên có dạng với hình cầu.

Olympus Mons
Núi ở trên sao Hoả lớn hơn so với trên Trái Đất.

Có một kích thước tối đa để các ngọn núi có thể tạo thành và chúng sẽ nhỏ hơn trên nhưng hành tinh có khối lượng lớn hơn. Do đó trên sao Hoả có thể tìm thấy những ngọn núi lơn hơn trên Trái Đất (ví dụ núi Opympus Mon) bởi vì khối lượng của sao Hoả nhỏ hơn so với Trái Đất. Miễn là kích cỡ các ngọn núi tối đa mà nhỏ hơn so với bán kính của hành tinh, hành tinh đó sẽ có dạng hình cầu.

Sunday, 20 March 2016

Tại sao tâm Trái Đất lại rất nóng?

Tại sao tâm của Trái Đất lại rất nóng?

Đó là do sự kết hợp của hoạt động phóng xạ (các chất phóng xạ trong Trái Đất sinh ra nhiệt) và nhiệt còn dư lại từ sự hình thành của Trái Đất.
Tâm Trái Đất
Minh hoạ lõi Trái Đất.

Khi tất cả các vật chất đã tạo nên Trái Đất kéo lại với nhau, nó đã tạo ra một năng lượng động năng. Khi quá trình va chạm này dừng lại ở thời điểm"tiền Trái Đất", động năng này đã chuyển hoá thành nhiệt năng. Trái Đất thì vẫn chưa bị lạnh hẳn. Tuy nhiên Mặt Trăng nhỏ hơn nhiều so với Trái Đất, đã bị lạnh đi và gần như là có một lõi đặc bên trong.

(Theo NASA)

Hoạ sỹ Trần Nguyên Đán


Nửa đời “sống” với tranh khắc gỗ
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hòa thì trong khi đa số các thể loại hội họa và đồ họa nước ta có xuất xứ phương Tây và mới chỉ được định hình từ đầu thế kỷ XX thì tranh khắc gỗ có truyền thống lâu đời với các dòng tranh dân gian nổi tiếng như: Đông Hồ, Hàng Trống… từ ba bốn trăm năm nay. Thậm chí, có thể còn xa xưa hơn nếu kể đến tranh minh họa mộc bản Phật giáo và tranh bùa chú Đạo giáo.
Tác phẩm tranh khắc gỗ "Nghệ nhân nặn tò he ở Chùa Cầu - Hội An" của họa sỹ Trần Nguyên Đán.

Trong số các họa sĩ vẽ tranh khắc gỗ của Việt Nam như: Đỗ Đức, Mai Khanh, Nguyễn Nghĩa Duyện, Trần Tuyết Mai..., họa sĩ Trần Nguyên Đán nổi tiếng bởi sự bền bỉ với nghề và có nhiều sáng tạo riêng, được đồng nghiệp ghi nhận. “Trần Nguyên Đán có quyền tự hào là một trong số không nhiều họa sĩ đồ họa tiêu biểu của Mỹ thuật Việt Nam suốt từ nửa cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI. Tranh ông đáng chú ý ở chỗ, bao giờ cũng nổi bật tinh thần dân tộc Việt từ bố cục, mảng đậm nhạt đến đường nét, màu sắc… thậm chí cả cái duyên dáng làm điệu cũng có hồn dân tộc”, ông Hòa nhận xét.


Quả vậy, xem tranh của họa sĩ Trần Nguyên Đán, thấy các giá trị của văn hóa Việt Nam được “ghi chép” với các đường nét, màu sắc thấm đẫm hồn vía dân tộc. Nhìn là có thể nhận ra ngay một Hội An xưa cũ, với người bán tò he, với dãy phố cổ thâm trầm. Nhìn là thấy ngay một Hà Nội bàng bạc sương khói của một thời đã xa, ở đó dung dị những con người, dung dị những góc phố, những cây cầu…Nhìn là thấy ngay một miền quan họ, với nón quai thao, với thuyền quan họ hay những nét văn hóa ruộng đồng của người Việt ngàn đời: đi cấy, múa rồi nước… Những nét văn hóa thân yêu, máu thịt của người Việt hiện ra trong tranh khắc gỗ của họa sĩ Trần Nguyên Đán có thể đánh thức những ký ức ẩn giấu trong nhiều tâm hồn Việt.

“Họa sĩ Trần Nguyên Đán là một gương mặt đặc biệt trong làng Mỹ thuật Việt Nam bởi ông chuyên tâm gần như triệt để vào một chất liệu duy nhất: tranh khắc gỗ. Cả một đời nghệ thuật, kể từ bước đầu khắc gỗ năm 1966, thuở còn sinh viên đến nay đã nửa thế kỷ trôi qua, mặc ai “thử sức” hay “mở rộng” ra các chất liệu khác, ông chỉ chuyên chú đến mức đắm say vào tranh khắc gỗ mà thôi. Tất nhiên, vì từng theo học mỹ thuật nghiêm chỉnh nên ông cũng đã từng vẽ lụa, tranh cổ động, bột màu, màu nước… nhưng đó chỉ là những khoảnh khắc hiếm hoi một thời… Với rất nhiều giải thưởng đã giành được, Trần Nguyên Đán có quyền tự hào là một trong số không nhiều họa sĩ đồ họa tiêu biểu của Mỹ thuật Việt Nam suốt từ nửa cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hòa chia sẻ.
Hoạ sỹ Trần Nguyên Đán cả một đời "sống chết" với tranh khắc gỗ.

Đó là lý do mà vào hai ngày 21 đến 27/3 tới đây, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (số 66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) sẽ diễn ra triển lãm “Nét khắc từ truyền thống đến hiện đại”. Triển lãm sẽ trưng bày hơn 100 tác phẩm, chủ yếu là tranh khắc gỗ và mộc bản, của họa sĩ Trần Nguyên Đán nằm trong bộ sưu tập của nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hòa - Giám đốc Bảo tàng Gốm sứ Hà Nội. Đây là những bản khắc và tranh được họa sĩ Trần Nguyên Đán sáng tác từ những năm 1970 đến 2015.

Nối truyền thống với hiện đại
Những dấu ấn thành công của ông bắt đầu từ năm 1970 với tác phẩm nổi tiếng là "Chăm học chăm làm", "Con trâu là đầu cơ nghiệp"… Sau gần 50 năm sáng tác và gìn giữ tranh cũng như các mộc bản tại nhà riêng, đến nay, một phần sự nghiệp sáng tác tranh khắc của họa sĩ Trần Nguyên Đán đã nằm trong bộ sưu tập của nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hòa. Điều thú vị, tất cả các bức tranh nằm trong bộ sưu tập này đều được họa sĩ Trần Nguyên Đán giữ gìn cẩn thận, trải qua nhiều năm tháng cùng với những biến cố, thăng trầm của lịch sử đất nước cũng như cuộc sống riêng của người nghệ sĩ, trong đó có cả bản khắc đi kèm.

Nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hòa cho biết, bà cảm thấy tự hào khi đã sưu tập được hơn 100 tác phẩm của họa sĩ Trần Nguyên Đán. “Đây là họa sĩ có nhiều tác phẩm như cây cầu nối truyền thống với hiện đại”, bà Thu Hòa nói. “Đây là họa sĩ đầu tiên tôi sưu tập được tác phẩm một cách hệ thống, từ những tác phẩm đầu tay khi họa sĩ còn ngồi trên ghế nhà trường cho tới những sáng tác gần đây của ông”.
Tác phẩm "Mèo chuột thỏa thuận" được in từ mộc bản khắc gỗ của tác giả Trần Nguyên Đán.

Nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hòa mong muốn sẽ có thêm nhiều những người sưu tập đi theo từng họa sĩ và hình thành những bộ sưu tập trọn đời. Bởi ở Việt Nam, nhiều họa sĩ hiện nay không muốn hoặc không có điều kiện để giữ lại những tác phẩm làm nên dấu ấn, thương hiệu, và phong cách của mình. Do vậy, rất cần thêm các nhà sưu tập để gìn giữ những di sản hội họa, qua đó có thể giới thiệu tới công chúng những gương mặt ấn tượng với những tác phẩm giàu giá trị, giàu tính nhân văn.

Muốn mang tranh khắc gỗ đi khắp thế giới
Họa sĩ Trần Nguyên Đán sinh ngày 29/10/1941, ở thành phố Bắc Ninh. Ông học khoa Hoành tráng thuộc trường Cao đẳng Mỹ thuật Công nghiệp (nay là Đại học Mĩ thuật Công nghiệp) từ 1966. Ông là hội viên ngành đồ họa Hội Mĩ thuật Việt Nam từ 1974. Sau khi ra trường ông công tác tại Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Bộ Văn hóa (1971 - 1980); cán bộ Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam rồi làm Phó giám đốc Bảo tàng Mĩ thuật (1981- 2003); Ủy viên Hội đồng Nghệ thuật chuyên ngành đồ họa khóa III (1989 - 1994); Ủy viên Ban chấp hành, Ủy viên Hội đồng Nghệ thuật Hội Mĩ thuật Hà Nội (1984 - 1994).

Tác phẩm của họa sĩ Trần Nguyên Đán đã được tặng Giải Nhất Triển lãm 10 năm Nghệ thuật Đồ họa Toàn quốc năm 1985; Giải Ba Giải thưởng Hội Mĩ thuật Việt Nam năm 1994; Giải B Triển lãm Mĩ thuật Khu vực I (Hà Nội) năm 2000; Giải A Triển lãm Mĩ thuật Thủ đô năm 1985; Bằng khen danh dự Triển lãm Đồ họa Quốc tế tại Tiệp Khắc năm 1985.

Đặc biệt, năm 2007, họa sĩ Trần Nguyên Đán đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt II cho 5 tác phẩm tranh khắc: “Nghệ nhân Hàng Trống”, “Chăm học chăm làm”, “Trở lại Tam Bạc”, “Hội đền Hùng” và “Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội”.
Tác phẩm "Con trâu là đầu cơ nghiệp".

Cả cuộc đời và sự nghiệp sáng tác nghệ thuật của ông dành trọn cho nghệ thuật đồ họa, tranh khắc gỗ Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ, ông đã thử nghiệm đồ họa trên các chất liệu và đề tài. Đặc biệt, trong thời gian từ lúc nghỉ hưu đến nay, ông luôn dành thời gian và trí tuệ để tiếp tục cho ra đời những tác phẩm tranh khắc có giá trị.


Sự nghiệp của họa sĩ Trần Nguyên Đán khá đồ sộ, tranh ông hiện có mặt trong nhiều bảo tàng nổi tiếng của Việt Nam, như Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, Bảo tàng Đà Nẵng…

Trước khi nghỉ hưu họa sĩ Trần Nguyên Đán cũng đã tổ chức nhiều triển lãm cá nhân tại Hà Nội, Huế, TP.HCM,… Kể từ khi nghỉ hưu tới nay, đây là lần đầu tiên ông xuất hiện trước công chúng và giới mỹ thuật qua triển lãm “Nét khắc từ truyền thống tới hiện đại”.
Hoạ sỹ Trần Nguyên Đán ước nguyện được đem tranh khắc gỗ Việt Nam đi khắp thế giới.

Họa sĩ Trần Nguyên Đán cho biết, lúc đầu khi được nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hòa đề nghị làm triển lãm, ông cũng ngại, không muốn xuất hiện. Tuy vậy, vì sự nhiệt tình của nhà sưu tập, họa sĩ đã đồng ý và sẽ xuất hiện tại sự kiện sắp tới, cũng là dịp đánh dấu sự nghiệp hội họa ở tuổi 75 của mình.

Họa sĩ Trần Nguyên Đán vẽ nhiều, nhưng ông không có ý định giữ tác phẩm làm tài sản riêng để sau này làm Bảo tàng cá nhân. Ông mong muốn trao gửi nó vào tay nhà sưu tập, bảo tàng nghệ thuật trong và ngoài nước để tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị nghệ thuật đồ họa tranh khắc gỗ Việt Nam.


Hà Tùng Long

Thursday, 17 March 2016

Post từ Facebook of Phương Nguễn



My Name's ML·

R.I.P.
Một nén tâm nhan của Người Việt xa xứ cùng bài thơ cảm động dưới đây để tiễn biệt Trần Lập, Nhạc sĩ/Ca sĩ "Bông hồng thủy tinh", "viên gạch" tạo nên bức tượng đài của nhạc Rock Việt Nam!
---

NIỀM TIN ĐỨT GÃY
         (Trần Lập Viết tặng vợ và mấy nhóc con )

Con ạ, những dòng này là ba viết cho các con
Cho vợ, mẹ của hai con anh, người đàn bà còn rất trẻ
“Bông hồng thủy tinh” xưa thay đóa hoa cài lên mái tóc mềm mảnh dẻ
Mười năm trời như cơn gió nhẹ thoảng qua.

Chuyến đi lần này ba sẽ đi đến một vùng đất rất xa
Mà biết chắc là không hẹn ngày trở lại
Đôi “mắt đen” như mùa thu của em, của các con sẽ còn trong anh, trong ba mãi mãi
Thương xót cho “người đàn bà hóa đá” đợi chờ ba.

Chẳng bao giờ anh hối tiếc những tháng “ngày hôm qua”
Vì em đã sinh ra cho anh Bình Minh và Minh Tú
Mười năm bên nhau, ngắn – dài đủ chưa hay chưa đủ
Hôn nhân “khám phá” vậy mà
Chuyến đi lần này rất khác với những chuyến đi hôm qua
Mà anh cùng bạn bè anh “nam châm” khắn khít cái micro trên “đôi bàn tay” “rock xuyên màn đêm”, xuyên “cơn mưa hoang dã” tặng người.

Em phải vui lên, phải vững chải nụ cười
Đừng sầu úa lạnh băng như ” tâm hồn của đá”
Anh đi lần này vào giữa mùa tháng ba “cây bàng” chưa trút lá
“Hoa ban trắng” nở khắp cung đường dã biệt
Một cuộc chia tay thắm thiết
Nhạc hiệu tiễn đưa lần cuối trong đời.

Thị phi rất nhiều em xem nhẹ khơi vơi
Thì “niềm tin cát bụi” cũng chỉ là trò chơi phận số
Chỉ thương em, thương con…một góc đời loang lỗ
Khuyết anh lấp mãi không đầy.

Mười năm trời mình chung sức dựng xây
Nay kiệt quệ nên ‘bức tường” bên anh sụp đổ
Mạnh mẽ lên em, thay anh trụ kê cho vững căn nhà còn y nguyên 4 chỗ
Đừng để buồn loang lỗ đến mai sau.

Bão qua rồi bão sẽ lặng rất mau
Em dìu dắt con chúng ta đi cho hết ”đường đến ngày vinh quang” em nhé
Bài hát anh động viên mọi người đi đến niềm tin mạnh mẻ
Riêng anh… nắng tắt giữa chừng…

Ngày chợt thấy bâng khuâng…!!!

 -----------------

Saturday, 12 March 2016

gặp nhau tại nhà họa sĩ Trịnh Trí



buổi họp mặt hôm nay thiếu nhiều khuân mặt đẹp của hội chúng ta Như nhà văn Lê Phương, nhạc sỹ Hồng Đăng, HS An Chương Vũ chẳng hạn ...





Đàn ông không đủ tư cách... khen nhau!



Ở tuổi thất thập cổ lai hy, nhạc sĩ Nguyễn Cường vẫn nhanh nhẹn và trẻ trung như thanh niên, vẫn quần jeans, áo kaki, vẫn nụ cười khà khà quen thuộc, nói nhanh và đi lại cũng nhanh. Ông bảo đã bán đi chiếc ô tô cổ từ mấy năm nay rồi, giờ đi lại bằng taxi với xe buýt.

Trong căn nhà nhỏ nằm trên phố Hàng Bạc, treo kín tường là tranh với tranh, trong đó có một bức cực kỳ ấn tượng mà hỏi ra mới hay do chính tay ông vẽ. Người nghệ sĩ gốc Hà thành đã có cuộc trò chuyện cởi mở và thú vị cùng phóng viên Báo An ninh Thủ đô.

Thừa giấy vẽ... tranh!

PV: Ô, nhạc sỹ Nguyễn Cường vẽ cả tranh cơ đấy, bất ngờ quá!

Nhạc sĩ Nguyễn Cường: À, có nhưng mới hứng chí vẽ đúng mấy cái thôi, cách đây cũng phải 13 năm rồi, từ đấy trở đi tôi tuyệt nhiên không bao giờ vẽ nữa.

Sao thế, tôi thấy ông vẽ đẹp mà, có tài hẳn hoi chứ chẳng đùa?

Tài cán gì đâu, loăng quăng ấy mà, nhưng được cái nhiều người xem xong cứ bị ấn tượng thế (cười).

Thế duyên cớ nào mà ông lại có cái lần đầu tiên loăng quăng cầm cọ đấy?

Thì tôi thích tranh mà, ai đến nhà cũng thấy tôi treo tranh khắp nhà, toàn tranh bạn bè vẽ tặng. Tự dưng một lần thích vẽ, thế là đi mua cọ, mua màu với toan về vẽ, mà mua toàn đồ “xịn” hẳn hoi. Vẽ xong có thằng bạn làm họa sĩ đến nhà chơi, đến nơi không nói năng gì cả cứ thế tịch thu tất cả toan, sơn dầu với các dụng cụ vẽ của tôi mang về. Nó bảo: “Đồ dở hơi, đừng làm trò khỉ, ông chỉ nên tập trung vào viết nhạc thôi ông nhạc sĩ của tôi ạ, việc vẽ kia để tôi làm”. Thấy nó nói cũng đúng, mình vẽ vớ vẩn thì được chứ không nên sa đà.

Tôi thấy người ta hay làm việc khác thường khi có sang chấn về tâm lý, không thì cũng phải cực kỳ phấn chấn. Kiểu như ông đang viết nhạc tự dưng “dở chứng” vẽ thì thuộc dạng nào?

Có sang chấn gì đâu, tôi vui vẻ mà, chắc là phấn chấn (cười). Người ta bảo thừa giấy vẽ voi, mình không vẽ voi mà viết nhạc, viết nhạc mãi cũng mệt, thử vẽ một tý xem thế nào thôi, nhưng mà mới vẽ được đúng một lần đã bị tịch thu “đồ nghề” rồi nên thôi luôn.

Thế đã có ai đến nhà thấy thích quá rồi hỏi mua tranh của ông chưa?

Không, sao mà họ dám hỏi mua, hỏi tôi bảo giá triệu “đô” thì ai mà dám mua cơ chứ (cười).

Đặt hàng mà có tiền thì cũng tốt!

Dạo này ông đang mải mê viết gì thế, thấy trên bàn dưới ghế toàn “list” nhạc là nhạc?

À thì tôi đang viết nhạc. Trong sáng tác của tôi có 2 mảng rất lớn là dân ca các dân tộc Tây Nguyên và dân ca đồng bằng Bắc bộ. Tôi là người mà nếu không có dân ca thì không làm được gì hết. Tôi đang viết với dựng nốt liên khúc Thị Màu dựa trên chất liệu chèo. Thú vị lắm, từ việc Thị Màu đẹp thế nào, tự sự ra sao, là niềm ước mong và nỗi khao khát của nhiều người cho đến việc Thị Màu về quê ở Thái Bình, dẫn mọi người đi chơi Festival Huế rồi mặc quần jeans nhảy rock trên sân khấu. Thật ra tôi viết liên khúc này xong lâu rồi mà chưa dựng hết được, thành ra cứ bị ám ảnh mãi.

Hà cớ gì mà cái cô Thị Màu này lại ám ảnh ông suốt bao nhiêu năm qua thế?

Vì tôi thấy Màu đẹp, người con gái đẹp nhất Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua đích thực là Màu chứ ai. Các cụ xưa thâm thúy thật, đặt tên nhân vật là Thị Màu, chữ “Màu” trong “màu mỡ” đã đủ thể hiện vẻ đẹp đặc trưng của người con gái sinh ra trong một đất nước có nền văn minh lúa nước, lại khát sống và khát yêu. Lịch sử thì có rất nhiều nữ anh hùng đáng kính, tôi kính nể và tôn thờ những người phụ nữ kiên cường ấy nhưng mà yêu thì lại yêu Thị Màu (cười).

Dân ca quan họ, hợp xướng... rồi lại cả chèo, chưa kể ông sáng tác cho không biết bao nhiêu địa danh rồi, kể ra địa hạt âm nhạc của Nguyễn Cường cũng… phức tạp phết nhỉ?

Đi khắp đất nước thì nơi nào cũng có vùng văn hóa mà tôi luôn muốn “đột nhập” mà. Với lại người ta “đặt hàng” thì mình viết. Đấy là công việc của tôi mà.

Thế để “đặt hàng” ông sáng tác có dễ không, hay là có… tốn kém lắm không?

Trước hết là tôi phải thích đã. Nói chung thích hay không rất quan trọng. Chứ viết thì không khó, vì chỉ có những người lười biếng và bất tài mới không thấy được cái hay cái đẹp của cuộc đời này. Đến cái lá héo rơi từ trên cây xuống mà người có tâm hồn cũng sẽ thấy đẹp. Nói chung 99% các sáng tác của tôi là viết theo đơn đặt hàng. Có đơn đặt hàng chỉ là một lời gợi ý viết cái này, cái kia đi chứ không có kinh phí gì cả, mình thấy hay thì viết. Đừng nghĩ cứ đặt hàng là tiền. Đương nhiên, đặt hàng mà có tiền thì vẫn tốt (cười).

Thợ tóc... phát khóc vì tôi!

Có 3 thứ tôi thấy ông hình như không bao giờ có ý định thay đổi trong suốt bao nhiêu năm qua, ấy là mũ, bộ ria với kính?

Đúng rồi, tôi chẳng định thay đổi 3 thứ ấy, chúng mặc định với Nguyễn Cường rồi. Mũ cao bồi thì tôi được tặng nhiều lắm, ria với tóc thì tôi tự cắt nên hơn nửa thế kỷ nay thợ cắt tóc không lấy được đồng nào của tôi cả. Cắt dễ mà có gì đâu, xoẹt 2 nhát kéo là xong, thợ tóc…phát khóc với tôi luôn (cười). Tôi mà thay đổi thì nhiều người cũng không thích ấy chứ. Có bận đi ở trên đường quên không đội mũ, mấy bà mấy cô chạy thể dục ven sông mới bảo: “Yêu cầu đội mũ”. Rồi có lần đi ra sân bay, mấy anh hải quan bảo “đề nghị chú đội mũ vào cháu mới công nhận chú là Nguyễn Cường” (cười).

Thế đã có cô nào thổ lộ họ thích ông vì mấy thứ ấy chưa?

Ôi chuyện phụ nữ thì tôi không thích nói đâu, khó nói lắm (cười). Nhưng mà nói gì thì nói, mình là đàn ông, nếu được phụ nữ khen thì mới tin, còn đàn ông khen nhau thì sao mà tin được, đàn ông không có đủ tư cách khen nhau (cười).

Nhưng mà quả thực tôi thấy ông hiếm khi sáng tác tặng cô nào?

Thật ra tôi chẳng sáng tác tặng cô nào cả, chỉ có duy nhất một bài tặng bà xã là “Một nét ca trù ngày xuân” từ lâu lắm rồi thôi. Ngày đó thì sáng tác ngay tại trận, khi cả hai đang yêu nhau, nàng 18 còn tôi thì mười chín đôi mươi. Hồn nhiên lắm, thích thì viết chơi thôi chẳng “âm mưu” gì cả.

Đúng là Nguyễn Cường hồn nhiên thật!

Cuộc đời này tôi thích nhất câu nói: “Con người sinh ra chỉ có mỗi một nhiệm vụ là vui vẻ chấp nhận định mệnh”. Hết. Tôi biết câu đó từ năm 1976 và càng ngày thấy càng quá đúng. Ai sống ở cuộc đời này cũng coi như được cấp một cái “visa”, hết hạn thì chuyển sang thế giới khác mà. Sao lại không vui chứ.

Ông có thấy mình có biệt tài đem lại niềm vui cho người khác không?

Tôi không thích buồn mà. Có lần trả lời phỏng vấn, tôi bảo: “Nỗi buồn đối với tôi cũng là một giá trị, tôi kính trọng nỗi buồn nhưng không xài nó”. Đọc xong, Trần Tiến chạy đến nói với tôi: “Cường ơi, ông kính trọng tôi đi!”.

Giờ mà chạm đến tuổi tác, ông có giật mình không?

Chẳng có gì giật mình cả, tuổi tác cũng có nghĩa lý gì đâu. “Visa” thì được cấp sẵn rồi, có ông sống cả trăm tuổi vẫn còn được gia hạn, có ông ba mươi mấy tuổi đã hết. Mình cứ vui vẻ cho đến khi nào hết “visa” thì thôi (cười).

- Xin cảm ơn những chia sẻ chân thành của ông!

Theo Dương Cầm

Lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra


PHẠM THỊ HOÀI
MARCH 08, 2016 12:25 CT

Viết cho Ngày Phụ nữ

Nếu không có ngoại tình, kho tàng văn chương thế giới phải vơi đi quá nửa. Chuyện tình, nếu không có gì xen vào giữa, tất nhiên rất đỡ cho các đương sự, song Romeo gặp Juliet ở Starbucks, đưa nhau đi Sapa du lịch, làm đám cưới ở Đà Lạt, sinh một trai một gái, hàng ngày lên Facebook chia sẻ trạng thái: với Shakespeare, đó là kết tinh của ác mộng. Giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc phải có một nàng Bảo Thoa. Scarlett O’Hara phải chen vào mọi chốn tình ái trong lành như một luồng gió độc. Jane Eyre phải băng đêm bỏ chạy khi vừa mặc áo cưới. Meggie Cleary phải phản bội tình yêu duy nhất của đời mình để trung thành với tình yêu duy nhất của đời mình: giữa nàng và cha xứ Ralph de Bricassart là Thiên Chúa. Bác sĩ Zhivago và cô y tá Lara phải say đắm nhau trên đầu mọi giông bão của thời đại và sau lưng những người chồng và người vợ hợp pháp của cả hai bên. Bà Bovary phải dối trá kinh niên, giữa cuộc đời đơn điệu ở tỉnh lẻ và những ảo tưởng từ các tiểu thuyết ngôn tình lãng mạn. Và Anna Karenina, người đàn bà ngoại tình bất hủ, phải lao đầu vào tàu hỏa. Kim Bình Mai, Người tình của phu nhân Chatterley, Effi Briest, Gatsby vĩ đại, Anh em nhà Karamazov, Đỏ và đen, Eugene Onegin, Đồi gió hú, Trăm năm cô đơn, Tess, Lolita, Emma, Jules và Jim, Hội chợ phù hoa, Ba chị em, Kiêu hãnh và định kiến, Đời nhẹ khôn kham, Phía nam biên giới phía tây mặt trời và Phía đông vườn địa đàng..., những áng văn ấy đều miệt mài kể về những đam mê và lừa dối, mù quáng và ngang trái, tổn thương và lầm lỗi, ngọt ngào và cay đắng, ngu xuẩn và điên rồ, bỏ rơi và níu kéo của trái tim. Những trái tim khóa trong lồng ngực, đội trên đầu, vứt dưới chân, gắn ở đầu môi và kẹp giữa háng.

Tác phẩm mở mang nhất của Goethe với tôi không phải là Faust hay Nỗi đau của chàng Werther mà là Những kết hợp tùy chọn (Die Wahlverwandtschaften), một kiệt tác phi thời gian, đứng cạnh Những cặp vợ chồng (Couples) của John Updike ra đời sau 177 năm vẫn mới toanh và đến hôm nay chưa hề bạc mầu. Goethe kể về hai cặp vợ chồng, Updike về sáu cặp. Họ ngoại tình, lẫn nhau, tay ba, tay tư, rối tung, nổ tung, tan nát. Tất cả, chỉ trừ hạnh phúc phẳng phiu. Ái tình trong mỗi chúng ta là một chiếc radar phát sóng siêu tần, song cái gì sẽ xuất hiện để lọt vào tầm sóng của nó thì chỉ có số phận biết được và số phận chẳng bao giờ thông báo trước. Trên màn hình định vị, những người thứ ba như vật thể lạ có thể hiện ra bất kỳ lúc nào, trừ khi chúng ta chỉ xòe radar cho một lần duy nhất rồi cất nó vào kho kín, tức trừ khi chúng ta dùng ái tình của mình như một phương tiện thực dụng, cho một mục đích, xong là thải.


Márai Sándor -Az igazi - NGUỒN RUKKOLA.HU


Tanizaki - the Key - NGUỒN ASYMPTOTEJOURNAL.TUMBLR.COM

Tôi cũng đầy lòng biết ơn với hai cuốn tiểu thuyết tình tay ba, một của Sándor Márai (Az Igazi) kể về một người đàn ông với hai người đàn bà, và một của Jun'ichirō Tanizaki (Chìa khóa) kể về một người đàn bà với hai người đàn ông. Cả hai đều mượn nhật ký của các nhân vật làm công cụ để khai thác những mỏ quặng ái tình ẩn sâu trong lòng người. Tôi đã dịch Chìa khóa sang tiếng Việt và đó là nguồn cảm hứng cho truyện ngắn Ám thị nhiều năm sau. Sự phóng chiếu của quyền lực vào dục vọng trong tình yêu là thứ các bà mẹ không dặn con gái khi bước vào đời. Người thứ ba chỉ là chất xúc tác cho kịch tính của trò chơi quyền lực, trong đó quyền chiếm đoạt, sở hữu và kiểm soát thân xác, tâm hồn và toàn bộ cuộc đời của đối tượng yêu đóng vai trò trung tâm. Mọi tình yêu đều là sự ích kỷ thả rông, không một gam oán thán Sándor Márai để các nhân vật của mình tự hỏi. Tự hỏi, liệu có thể chịu đựng chế độ cai trị kinh hoàng của tình yêu mà vẫn còn lành lặn. Liệu cái khao khát tìm ra một người duy nhất như một nhạc cụ duy nhất cất lên mọi âm thanh của cuộc sống có phải là một ảo tưởng chết người.

o O o

Nếu không có ngoại tình, kho tàng văn học Việt Nam không có tổn thất nào đáng kể. Chủ đề đó đơn giản không tồn tại, ngay cả trong các sáng tác của văn học tiền chiến với những bứt phá khỏi vòng cương tỏa của văn hóa và xã hội cổ truyền. Tôi không biết đủ về văn học miền Nam trước 1975, song việc truyện ngắn Nhà có cửa khóa trái của Trần Thị NgH. nổ như một trái bom nhỏ năm 1972 cho thấy đó là một ngoại lệ để xác nhận thông lệ. Trong nhận thức của chúng ta chỉ có hai loại tình yêu: một để ca ngợi và cảm thông, một để lên án và phỉ nhổ. Chúng ta không chấp nhận dù chỉ một điểm mù. Một bên là những mối tình đầy trong sáng vượt lên mọi hoen ố (Thúy Kiều và Kim Trọng, đổi từ cầm sắt sang cầm cờ sau chính xác 3,109 câu lục bát), đầy lãng mạn dù nhiều trắc trở (Lan và Điệp), đầy duyên phận mầu nhiệm (Tiên Dung và Chử Đồng Tử) hay định mệnh bi thương (Trương Chi, Tô Thị), đầy chung tình dù hủy diệt cả một quốc gia (Mỵ Châu và Trọng Thủy), đầy chính chuyên tiết hạnh (Thiếu phụ Nam Xương), đầy vị tha cao thượng (Quan âm Thị Kính), đầy trung tín nghĩa khí (Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga), đầy vùng lên tranh đấu cho nhân quyền (Loan và Dũng) hoặc nếu cần thì đầy giác ngộ cách mạng (Vợ chồng A Phủ). Bên kia là thế giới của đám Sở Khanh, Nghị Hách và Nghị Quế, những thằng đàn ông bội bạc, dâm ô, tráo trở, và của những bà Phó Đoan, Huyền Làm đĩ, Xúy Vân và Thị Mầu, những con đàn bà đàng điếm, lẳng lơ, trơ tráo. Thách thức lớn nhất với độc giả Việt Nam đến từ một trong những nhà văn tài năng nhất, Nam Cao. Không biết phải làm gì với mối tình lò gạch của Chí Phèo và Thị Nở, phần lớn người Việt lấy đó làm trò cười. Với thời gian, chúng ta bớt khắc nghiệt đi một chút khi phán xét về những điều thực ra bất khả phán xét và hoài nghi hơn một chút khi tuyên dương những điều thực ra xa lạ với tuyên dương. Song về đại thể, quan niệm về luyến ái và hôn nhân của người Việt cho đến hôm nay vẫn đi tiếp con đường một chiều, mũi tên xanh chỉ về hướng chính diện, vòng cấm đỏ báo hiệu vùng phản diện.


Hình phạt tội ngoại tình ngày xưa - TRANH MỘC BẢN CỔ

Cho nên không có gì đáng kinh ngạc trước một điều luật mới, sắp có hiệu lực ở Việt Nam: Luật Hình Sự, điều 182, cho phép bỏ tù những kẻ ngoại tình, nếu ngoại tình kéo theo ly hôn hoặc khiến một người trong cuộc tự sát. Làm thế nào một tòa án hiện đại chứ không phải một thứ pháp đình Trung cổ có thể chứng minh rằng chính là con gà ngoại tình đẻ ra quả trứng thất bại của hôn nhân mà không ngược lại? Người ta vẫn giày vò, giam hãm, tra tấn và giết nhau bằng tình yêu, song làm thế nào một nhà nước hiện đại chứ không phải một hội đồng tù trưởng thời tiền sử có thể gô cổ một ai đó nếu trái tim của ai đó tan nát? Song điều luật hình sự hóa ngoại tình hoàn toàn lỗi thời ấy đáp ứng đúng nhu cầu của một xã hội với diễn ngôn chính diện phản diện chủ đạo trong luyến ái.

Tôi quả thật rất kinh hãi cuộc lên đồng tập thể của hàng triệu người Việt, chủ yếu là phụ nữ, trong vụ tổng tiến công và nổi dậy chống cô ca sĩ Hồ Ngọc Hà. Chỉ thiếu điều họ đem cô ấy ra bỏ rọ trôi sông như ở thuở bị cho là man rợ, song ở thời đại của iPhone và Facebook, phụ nữ Việt Nam vẫn bị chính phụ nữ Việt Nam tụt quần đánh ghen hội đồng, cạo đầu bôi vôi, rạch mặt, trét phân và xát ớt vào vùng kín, xăm hình rết lên mặt, tống lên xe tải đưa đi bêu riếu, đổ xăng đốt, tạt axít và xin tí huyết. Trong Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro, Hemingway cho một nhân vật nam ngẫm ra rằng tình yêu là một đống phân mà thằng đàn ông làm con gà trống nhảy lên đó gáy. Còn đàn bà? Chẳng lẽ mãi túm tóc giúi đầu nhau vào đống phân ấy chỉ vì giành nhau tiếng gáy? Hay vì, như Tấm, nhân vật chính diện, hiện thân của cái Thiện, đã xử với Cám, nhân vật phản diện, hiện thân của cái Ác: Ngay cả khi đã sum vầy hạnh phúc bên vua, Tấm vẫn điềm nhiên xé xác Cám ra làm mắm gửi biếu dì ghẻ.

Và trước đó, Tấm đã cảnh cáo: “Cót ca cót két. Lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra.”

P.T.H. 8/3/2016

Tranh của Vicente Romero Redondo

Vicente Romero Redondo, sinh năm 1956, là họa sĩ người Tây Ban Nha nổi tiếng với những tác phẩm hội họa sống động y như thật. Hầu hết tranh của ông đều tập trung thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và thể xác của người phụ nữ. Trong bài viết này, hãy cùng chiêm ngưỡng 15 tác phẩm hội họa nổi bật nhất của họa sỹ tài năng này nhé.

Nắng

Một chuyến picnic

Một ngày bận rộn

Trang điểm

Thư giãn

Đi dạo trên bờ biển

Đọc sách

Hóng gió

Hai chị em

Ngắm bình minh

Suy nghĩ

Đời thường

Sáng sớm

Một ngày ở nhà

Ba chị em

Friday, 11 March 2016

Họa sĩ Pháp đã vẽ Việt Nam

 Hình ảnh con người, đất nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20  trên tranh của các họa sĩ Pháp?

Tranh của họa sĩ người Pháp Joseph Inguimberty (1896-1971), trưởng khoa Hội họa của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.


Bức tranh sơn dầu “Janette, Dominique và bà vú em” của Joseph Inguimberty.


Bức tranh khắc họa phụ nữ Việt Nam ở những thập niên đầu của thế kỷ 20, do họa sĩ Joseph Inguimberty thực hiện.

Hai bức tranh tách biệt ở trên đã từng được Joseph Inguimberty đưa vào thành một bức sơn dầu khổ lớn, đặt tên là “Gia đình bên bờ ao”.


Bức tranh sơn dầu “Phụ nữ và trẻ em” vẽ năm 1934 của Inguimberty.

Bức “Những người phụ nữ gặp mặt”.

Bức “Họp mặt”.

Bức “Đất và người miền Bắc”.

Bức “Người phụ nữ nằm võng”.

Bức “Cô gái miền Bắc” vẽ năm 1934.

Bức “Đi chợ”.

Bức “Ngôi chùa”.

Bức “Những người phụ nữ” vẽ năm 1932 của Joseph Inguimberty.

Joseph Inguimberty là một họa sĩ Pháp. Trong trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông vốn được học trò yêu mến bởi là người có phương pháp giảng dạy thực tế, ít tính hàn lâm, kinh viện.

Joseph Inguimberty rất hứng thú với văn hóa Việt Nam. Trong thời kỳ sinh sống tại đây, ông đã thực hiện nhiều tranh về đất nước - con người Việt Nam.

Joseph Inguimberty luôn khuyến khích các học trò của mình hãy thực hiện những bức tranh thể hiện đậm đặc màu sắc văn hóa quê hương, cùng với đó, ông đề cao cách thể hiện màu sắc và ánh sáng. Trong tranh của Inguimberty, người ta có thể cảm nhận thấy rõ đường đi của ánh sáng, đặc biệt, tranh ông sử dụng những gam màu dịu dàng, lãng mạn.

Joseph Inguimberty còn rất hứng thú với chất liệu sơn mài và đã khuyến khích học trò của mình thử nghiệm với tranh sơn mài để nâng tầm sơn ta, từ những món đồ mỹ nghệ thủ công, lên thành một thể loại tranh nghệ thuật.

Tại Pháp, Joseph Inguimberty đã từng theo học mỹ thuật và kiến trúc tại trường Nghệ thuật - Thiết kế Quốc gia Pháp (Paris). Inguimberty đã từng giành được một số giải thưởng hội họa ở Pháp trước khi tới Việt Nam hồi năm 1925 và được mời làm trưởng khoa Hội họa ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Có lẽ đóng góp lớn nhất của Inguimberty đối với mỹ thuật Việt Nam chính là việc ông đã cùng với các học trò của mình thử nghiệm ở dòng tranh sơn mài - dòng tranh đã trở thành điểm nhấn đặc biệt của hội họa Việt Nam đối với hội họa thế giới.




Trên đây là một bức tranh sơn mài hai mặt được tạo thành từ 6 tấm gỗ ghép, một mặt khắc họa đoàn rước trong cung đình Huế và một mặt khắc họa cảnh quan mùa xuân. Tác phẩm do thầy trò Joseph Inguimberty cùng thực hiện ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Bức tranh đã từng được đem bán đấu giá ở Hồng Kông và đạt mức giá 1.100.000 đô la Hồng Kông (3 tỉ đồng). Bức tranh chỉ đề là tác phẩm của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, vì vậy, có thể hiểu đây là một tác phẩm do thầy trò Joseph Inguimberty cùng thực hiện. Kích thước của tác phẩm này là 180x300cm, được thực hiện vào khoảng năm 1938-1940.

Ngay khi đặt chân đến Việt Nam năm 1925, Inguimberty đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp và chất lượng của những món đồ mỹ nghệ sơn mài của Việt Nam, trong 20 năm giảng dạy ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Inguimberty đã cùng đồng hành với nhiều thế hệ học trò để sáng tạo và phát triển một trường phái tranh sơn mài của Việt Nam.

Những họa sĩ nổi tiếng trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam như Tô Ngọc Vân, Phạm Hậu, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn, Trần Quang Trân đều đã từng học về nghệ thuật vẽ tranh sơn mài trong ngôi trường này. Tác phẩm trên đây là một ví dụ độc đáo về những kỹ thuật cao tay, điêu luyện mà thầy trò nhà trường đã đạt tới.

Nếu mặt thứ nhất lấy nền màu đỏ thì mặt thứ hai lấy nền màu vàng. Bức này khắc họa một con phượng hoàng, bên cạnh nó còn có hai con sếu, bay giữa những bông hoa mai, hoa cúc, những cây tùng, cây trúc, trong phong cảnh mùa xuân. Đây vốn là những hình ảnh ước lệ, tượng trưng, mang nhiều ý nghĩa biểu đạt trong văn hóa Á Đông.

Sự đối lập giữa hai bức tranh ở hai mặt thể hiện nỗ lực đạt tới sự cân bằng, hài hòa. Tác phẩm có thể coi là một ví dụ tiêu biểu về thời kỳ thầy trò trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng nhau nghiên cứu, thực hiện tranh sơn mài.

Bức sơn mài này cũng được thực hiện bởi thầy trò trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương hồi năm 1940. Tác phẩm khắc họa hình ảnh chim phượng hoàng, bên cạnh đó còn có hình ảnh một vài con sếu trong quang cảnh mùa xuân.

Tác phẩm đã được bán đấu giá ở Hồng Kông và đạt mức 687.500 đô la Hồng Kông (1,9 tỉ đồng). Bức tranh được ghép thành từ 10 tấm gỗ với tổng kích thước 170x300cm.



Bức “Dân tộc vùng cao” vẽ bằng phấn màu và màu bột trên giấy, do họa sĩ người Pháp André Maire (1898-1984) thực hiện năm 1949.

Bức “Cảnh Hà Nội” do họa sĩ Pháp Gaston Roullet (1847-1925) thực hiện năm 1885.

Bức “Hải Phòng” do Gaston Roullet thực hiện đã được bán đấu giá với mức giá 56.250 đô la Hồng Kông (158 triệu đồng).

Bức tranh khắc họa quang cảnh Huế của Gaston Roullet, thực hiện hồi năm 1886. Tác phẩm đã được bán với giá 81.250 đô la Hồng Kông (228 triệu đồng).

Bức tranh khắc họa quang cảnh kênh Tàu Hủ ở Sài Gòn năm 1939, do họa sĩ người Pháp Léo Craste (1887-1970) thực hiện. Craste từng cộng tác với tạp chí Đô Thành Hiếu Cổ tại Huế.



Bức tranh sơn dầu “Một đám rước ở Đông Dương” vẽ năm 1927 của họa sĩ người Pháp René Bassouls - một người rất yêu mến đất nước - con người Việt Nam, ông đã từng thực hiện nhiều bức tranh ghi lại những nét thẩm mỹ văn hóa độc đáo ở nơi đây. Qua những bức tranh của René Bassouls, người ta có thể cảm nhận thấy sự ngưỡng mộ và hòa mình của họa sĩ vào đời sống văn hóa đang trải ra xung quanh ông.

Bức “Chợ bên bến sông” - một bức tranh sơn dầu của họa sĩ người Pháp Victor Tardieu (1870-1937), thực hiện vào khoảng năm 1924. Bức tranh đã được bán đấu giá với mức giá 150.000 đô la Hồng Kông (420 triệu đồng). Victor Tardieu chính là hiệu trưởng đầu tiên của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Bức “Mẹ và con” của Victor Tardieu vẽ năm 1925, có giá 367.500 đô la Hồng Kông (1 tỉ đồng). Bức tranh được vẽ bằng than và phấn màu trên giấy.