Saturday, 30 January 2016

Hãy nghe người già nói




Nhà văn: Xin đừng tự trói buộc mình

Tác giả: THU HÀ
   ( Bài đã được xuất bản.)

"Làm thơ, viết văn là sáng tác ra tác phẩm nói lên những vấn đề của con người gắn với thời cuộc, thời đại. Người cầm bút cần phải có năng lực dự báo, là cánh chim báo bão, là người đi đầu phản biện góp phần cho sự phát triển các giá trị Chân-Thiện-Mỹ trong xã hội; đem hồn thơ làm thắm đượm hồn người, thơ không nên chỉ lo phục vụ chính trị, mà phải "văn dĩ tải đạo". 

LTS: Thưa quí vị độc giả, vậy là một năm đã qua đi, và mùa xuân lại tới với thật nhiều tín hiệu tốt lành, cùng với những rào cản đòi hỏi mỗi chúng ta phải có quyết tâm chính trị rất cao mới có thể vượt qua. Theo truyền thống, Tết đến Xuân về là dịp để cùng nhau nhìn lại những chuyện đã qua và bàn về tương lai đang tới.  Đầu xuân năm nay, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu cuộc trò chuyện với nhà thơ Hải Như xung quanh khát vọng sáng tạo của văn giới với kỳ vọng những người cầm bút chúng ta thoát khỏi sợi dây tự ràng buộc để viết trung thực những gì đang diễn ra trong đời sống- câu chuyện đặt ra đã nhiều chục năm qua.

"Thiếu nhà văn, thừa cán bộ viết văn"

Nhà báo Thu Hà: Thưa nhà thơ Hải Như, trong những giai đoạn chuyển mình của dân tộc vào nửa cuối thế kỷ 20, văn học luôn xác lập được vị trí cao trong xã hội và trong lòng người đọc. Nhưng đó đã là chuyện của quá khứ. Cứ nhìn thực tế thì rõ, cùng được thừa hưởng những giá trị của Đổi mới song với những gì diễn ra ở mảng sách văn học, thơ ca, trong chừng mực cho thấy các nhà văn, nhà thơ hiện nay vẫn chưa bắt kịp tiến trình này, nếu không muốn nói là đi sau nhiều ngành hoạt động khác.

Nhà thơ Hải Như: Câu hỏi của nhà báo khiến tôi không khỏi giật mình. Đúng là chúng ta chưa tạo được dấu ấn bao nhiêu về "chiều sâu sáng tác" trong những người cầm bút. Tôi luôn nghĩ, chúng ta mới có cán bộ viết văn, cán bộ tuyên truyền hơn là nhà văn, nhà thơ đúng nghĩa.

Nhà văn, nhà thơ là phải có cái tôi, không có cái tôi không phải là nhà văn, nhà thơ mà đó là của các phe nhóm chính trị, nhóm lợi ích. Nhà văn, nhà thơ luôn phải tư duy theo dân tộc tư duy, không phải nương theo các nhà chính trị. Khi mà các nhà văn, nhà thơ chỉ chăm lo phấn đấu vào các đảng phái, phe nhóm, phấn đấu viết theo đơn đặt hàng, viết theo kiểu ăn theo, nói leo, thì làm sao có được một nền văn học đích thực.

Theo tôi, muốn có những tác phẩm văn học "để đời" rõ ràng không phải chuyện trong đảng hay ngoài đảng, chỗ đứng chỗ ngồi, già hay trẻ, nhận được hỗ trợ bao nhiêu... mà cái trước nhất chính là sự rung cảm của người cầm bút trước hiện thực. Quan trọng hơn cả là họ có vượt qua được những suy nghĩ thiệt hơn tầm thường, để có khát vọng sáng tạo, dám viết những gì đang diễn ra trong đời sống.

Nói như thế không có nghĩa là Việt Nam không có nhà văn, nhà thơ hay, không có tác phẩm tốt. Nhưng đúng là lâu lắm rồi chúng ta không tìm ra được những tác phẩm văn học lớn có giá trị khai mở, rung động, thức tỉnh lòng người.

Nhà báo Thu Hà: Có một điều mà dư luận băn khoăn mãi là tại sao có những tác phẩm đoạt các giải thưởng văn học cao vẫn được xuất bản đều đều nhưng lại nằm sắp hàng phủ bụi trên các giá sách vì không có người đọc. Ngược lại, không hiếm tác phẩm của những người viết không chuyên đầy cảm xúc trên nhiều trang báo cho thấy người viết đã nghiền ngẫm cuộc sống với tâm hồn có tính độc lập sáng tạo khá mạnh. Nhưng đáng tiếc trong số đó nhiều tác phẩm bị từ chối xuất bản với lý do này lý do khác, chứ đừng nói sẽ đoạt được giải thưởng nào.

Nhà thơ Hải Như: Để trở thành một văn sĩ, thi sĩ đích thực, người ta rất cần một thứ, đó là tự do. Tự do đó là khoảng sinh tồn của ngòi bút. Ai cũng biết, sáng tác văn chương luôn cần một không gian với những đặc thù riêng, cụ thể là tính độc lập sáng tạo, tự do tư duy. Nhưng độc lập - tự do này không ngoại lực nào có thể tác động mà chính nhà văn, nhà thơ phải tự nhận ra.
Ảnh minh họa: thanglong.chinhphu.vn

Nhà báo Thu Hà: Phải chăng vì vậy, nên mỗi khi tổng kết hoạt động văn học, các báo cáo chính thức của cơ quan quản lý cũng ngậm ngùi thừa nhận: "chưa có tác phẩm nào xứng tầm thời đại".

Nhìn lại nền văn học "Tự trói buộc mình" nhà thơ Xô Viết Rasul Gamzatov trong một cuộc phỏng vấn (đã được báo Văn Nghệ trích đăng theo bản dịch của Đào Hùng) có tổng kết đáng suy ngẫm: "Nhà văn phải là người thể hiện được nỗi đau của thời đại... Những người thầy thuốc viết bệnh sử của con người còn nhà văn viết bệnh sử của nhân loại. Các bạn hãy xem nền văn học Nga của thế kỷ 19 Puskin, Lermontov, Destoievski, Tolstoi. Những tác phẩm của họ đều viết về lịch sử những căn bệnh của đất nước, trong thời kỳ Xô viết người ta ép buộc văn học phải làm những điều vốn xa lạ với nó..."

Không là "quân gia" của các nhà chính trị

Nhà báo Thu Hà: Ông có cho rằng, bên cạnh sứ mệnh "viết bệnh sử của nhân loại", nhà văn, nhà thơ còn có thêm cả trách nhiệm chính trị?

Nhà thơ Hải Như: Lâu nay có những người vẫn nhầm lẫn giữa văn học và báo chí. Báo chí là hiện thực, văn học là hư cấu. Từ văn học theo thiển nghĩ của tôi thì bạn đọc mọi thời đại đều đã phân biệt có Hai dòng văn chương cùng song hành trong xã hội:

Dòng văn chương Ưu thời gồm những áng văn chương của kẻ sĩ (từ xa xưa nhà văn được xã hội tôn vinh là kẻ sĩ hàng đầu) vốn giàu lòng trắc ẩn, không chịu sống bình yên luôn trăn trở suy tư về kiếp người, tự nhận trách nhiệm về sự hưng thịnh của dân tộc. Đó là những người cầm bút luôn luôn mở to mắt nhìn ra những "bất công" xã hội, đã bằng sáng tác của mình thức tỉnh lương tri của mọi người.

Và, dòng văn chương Xu thời, gồm các tác phẩm chung một xu hướng mà nói theo Balzac, chỉ muốn "bào nhẵn những gồ ghề trong cuộc sống xã hội", những áng văn chương "một chiều" đánh mất tư duy độc lập. Tác giả những áng văn, áng thơ này được các đức vua và các chính trị gia nuôi dưỡng bằng bổng lộc khó khước từ. Và đương nhiên những cây bút này không muốn và cũng không dám nhìn ra xã hội quanh mình còn những "bất công" phi lý xúc phạm con người.

Chức năng của văn học là làm thức tỉnh con người trở lại "chân thân". Đối tượng của văn học là con người, không phân biệt vua với lê dân. Đức vua cũng cần được nhà thơ, nhà văn thức tỉnh như một người cùng dân.

Nhìn lại dòng lịch sử văn học của nhiều dân tộc, có những thế kỷ người làm thơ thì nhiều không đếm xuể nhưng thi sĩ không nổi vài ba. Bởi vậy tôi mới nói, thi sĩ- nhà tư tưởng phải bình đẳng trước nhà cầm quyền, không là "quân gia" của các nhà chính trị.

Nhà báo Thu Hà: Trang nhất tạp chí Cộng sản, tạp chí lý luận chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 7/1988 từng đăng một bài viết với tựa đề: "Quan hệ giữa văn nghệ và chính trị không phải là quan hệ giữa hai "bá quyền" của tác giả Lê Xuân Vũ. Nhà thơ nghĩ thế nào về mối quan hệ này?

Nhà thơ Hải Như: Cái chính là nhà văn đứng về phía nào, yêu và bênh vực ai, ghét và chống lại cái gì.

Đầu thập niên 70 thế kỷ trước, nhà văn hóa Trường Chinh từng hỏi tôi: "Anh nghĩ thế nào về sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ sĩ cũng như văn nghệ sĩ chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng như thế nào?". Tôi đã trả lời: "Nhà văn chúng tôi chấp nhận sự lãnh đạo văn nghệ của Đảng với một tinh thần là nhà văn chúng tôi được phép nghĩ với Đảng - nguyên văn tôi nói tiếng Pháp với ông Trường Chinh cụm từ này là "Réflechir avec notre Parti". Nghe xong, ông đứng dậy bắt tay tôi và nói "anh nói rất đúng, nhà văn phải nghĩ với Đảng, chúng tôi mong được các anh đóng góp ý kiến". Từ đó, tôi bắt đầu làm thơ theo cách suy nghĩ của tôi, đó là nghĩ với Đảng.

Những quan niệm chính trị là thống soái, văn nghệ phải phục vụ chính trị được hiểu một cách thô thiển đã tạo ra vô vàn tác giả và tác phẩm "ăn theo, nói leo". Theo tôi, làm thơ, viết văn là sáng tác ra tác phẩm nói lên những vấn đề của con người gắn với thời cuộc, thời đại. Nhà thơ, nhà văn cần tìm ra cái cốt lõi của đời sống xã hội, truy nguyên vào bản chất của nó để có những bài thơ, câu thơ lắng đọng. Vì thế người cầm bút cần phải có năng lực dự báo, là cánh chim báo bão, là người đi đầu phản biện góp phần cho sự phát triển các giá trị Chân-Thiện-Mỹ trong xã hội; đem hồn thơ làm thắm đượm hồn người, thơ không nên chỉ lo phục vụ chính trị, mà phải "văn dĩ tải đạo".
Nhà thơ Hải Như. Ảnh: vanvn.net


Nhà báo Thu Hà: Tại Hội nghị Lý luận Phê bình văn nghệ ngày 22/7/2004, lãnh đạo Ban Tư tưởng-Văn hoá chỉ ra ra một thực tế của văn học nghệ thuật Việt Nam như sau: "Một số quan niệm cũ không còn phù hợp", "những gì đã cũ và lỗi thời phải cương quyết vượt qua". Vậy để có thể "văn dĩ tải đạo", ông có gợi ý gì?

Nhà thơ Hải Như: Phải nhập cuộc chứ không thể ngồi mãi trên khán đài. Văn sĩ phải dám nói lên sự thực, dám đi sâu vào tận cùng những thân phận của cá nhân con người chứ không thể bằng lòng với những tác phẩm nhàn nhạt, hời hợt, u mê.

Nhập cuộc để thức tỉnh sự u mê và thúc giục nhà cầm quyền hành động cương quyết ủng hộ Đổi mới. Tôi cho rằng, văn chương phải trở thành lương tâm của xã hội. Giáo dục lương tâm là mảnh đất riêng của văn học nghệ thuật. Một xã hội nhân đạo và cởi mở sẽ sản sinh ra những tư tưởng lành mạnh, hiện thực.

Cách nay hơn 6 thế kỷ "Chu Văn An dâng bản sớ chém bảy tên lộng thần như một lời tuyên chiến

Nhắc kẻ sĩ mọi thời: Không được sống vô Can" đó sao.

Nhà báo Thu Hà: Có lẽ do quá hăng hái tập trung vào các chủ đề chính trị theo nghĩa hẹp nhiều năm nay một số người cầm bút chúng ta đã đánh mất thói quen tư duy những chủ đề chính trị theo nghĩa rộng? Đề tài này chúng tôi xin bàn sau. Xin được chuyển sang một câu chuyện khác. Có một nghịch lý là trong khi văn đàn luôn thiếu vắng những tác phẩm xúc động lòng người thì trên mặt báo lại thừa thãi những chuyện ầm ĩ giữa các Nhà văn, nhà thơ với nhau, chuyện nhà văn nọ nói xấu, bới móc nhà văn kia, thậm chí có người còn dùng cả ngôn ngữ chân tay để tranh cãi thiệt hơn.

Nhà thơ Hải Như: Họ đâu phải nhà văn, nhà thơ.

Điều đáng suy nghĩ là gần đây có không ít nhà thơ, nhà văn cầm thẻ hội viên nhưng không có tác phẩm mà chỉ có sách in ra. Họ thiếu cái cần có là độc giả. Với nhà thơ, nhà văn của mọi thời đại, điều quan trọng hàng đầu là độc giả- tạo ra được độc giả của thơ mình, văn mình chứ không phải bất cứ một thứ giấy tờ gì làm chứng chỉ. Nghĩ thật khó mà vui...!

Tôi xin trích bức thư của nhà thơ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1796-1872) mà người đương thời suy tôn là Thần Siêu bên cạnh "Thánh Quát" tức Cao Bá Quát. Ông gửi cho bạn đọc là Ngô Huy Phan ở làng Bái Dương huyện Nam Trực trấn Sơn Nam đàm đạo về chuyện làng văn thủa ấy.

"Học vấn mà tìm nó ở văn chương thì không thể nhưng không có văn chương thì lại không đủ để nhìn thấy học vấn. Bọn người viết văn thời bấy giờ (tức thời của hai ông- H.N) trước tiên khước từ điều đó vì ý nghĩa lợi lộc vắt ngang trước ngực. Họ bỏ sách xưa chẳng thèm ngó tới, bàn luận dông dài, đem những lời lẽ cũ rích sáo mòn chắp nhặt thành văn. Tuy họ biết rõ là vô nghĩa lý đấy nhưng cứ theo bừa để mua chuộc thói đời. Phương chi những người không biết lại không phải là hiếm. Hoặc có kể làm đôi câu nghe được thì tâng bốc lẫn nhau lên tận mây xanh...". Và: "Có bọn người tự biết thơ văn của mình không khuất phục được ai thì cố nặn ra loại văn bí hiểm quái dị để che giấu cái học thô mãng nông cạn của mình. Họ can tội làm ngu dốt những người đồng loại. Lúc đầu thì bọn ngu tin theo, sau đó thì kẻ trí cũng bị mê hoặc...". Và nhận định: "Văn chương có 2 loại: Loại đáng thờ và loại không đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương (ý muốn nói thoát ly đời sống xã hội - H.N) Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người"... Bức thư này trong tập Phương Đình văn loại do nhà nghiên cứu Đỗ Văn Hỷ dịch.

Đọc bức thư của "Thần Siêu", tôi bỗng liên hệ đến hiện trạng văn học hôm nay và càng khiếp sợ khẩu hiệu đề ra của nhà cầm quyền phương Tây. Khẩu hiệu "Đả đảo văn hóa tiêu khiển giải trí muôn năm (A bas la culture vive le divertissement) nhằm đầu độc mê hoặc thế hệ trẻ trên toàn cầu lúc này.

Nhà báo Thu Hà: Có một thực tế đã được cuộc sống đúc kết: "cơm áo không đùa với khách thơ"! Phải chăng đây chính là rào cản mà nhiều người cầm bút chưa vượt qua được?

Nhà thơ Hải Như: Tôi bỗng nhớ tới bậc tiền bối khả kính là cụ Nguyễn Thượng Hiền. Nhà chí sĩ thời Đông Kinh Nghĩa Thục nổi tiếng thơ hay, vần điệu điêu luyện, đã mượn lúc say tự tay lấy tập thơ của mình ra châm lửa đốt. Bởi, "Thơ ta trau chuốt bởi ham danh/Say đốt quánh đi dạ chẳng đành/Chưa dễ về sau lừa kẻ khác/ Mà còn giữ mãi mệt thân mình". Vì, ông tự nhận ra thơ mình xa rời thực tế, trở thành vô bổ trước thời cuộc.

Với bài thơ Ai? Tôi! Chế Lan Viên - một thi tài trong nền văn học Việt Nam đã rất sòng phẳng với cuộc đời trước lúc đi xa. Tôi nhớ 4 câu vào bài: "Mậu thân 2 nghìn người xuống đồng bằng, chỉ một đêm còn sống có ba mươi. Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2 nghìn người đó? Tôi - người làm những câu thơ cổ vũ. Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong...". Tôi nghĩ, Chế Lan Viên cảnh báo chúng ta, những người cầm bút hãy nghiêm khắc phê và tự phê lại mình, người cầm bút mọi thời chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc.

Tôi không quên, trong bài Muôn vàn tình thương yêu của Việt Phương, tác giả cho người đọc biết Bác Hồ "không cho gọi trận đánh chết nhiều người là trận đánh thắng đẹp..." chiến tranh không bao giờ là ngày hội! Và nhà thơ, nhà văn không bao giờ được "thi vị hóa" một cách "bốc đồng" nông nổi.

Từ ngàn xưa, các đức vua bao giờ cũng dùng bổng lộc thu nạp kẻ sĩ - các nhà thơ làm "thuộc hạ". Chấp nhận làm "văn nô" hay không thuộc quyền các nhà thơ.

Friday, 29 January 2016

Điểm sách




Nhân Tài, Phát Minh &Vận Nước 

Huyền Thoại Kim Thiếp Vũ Môn của Trần Gia Ninh, NXB Văn Học, 2015, đang tái bản. 

Trần Đán, kỹ sư y khoa, Hoa Kỳ 

Đặt vào một thời kỳ nhiễu nhương của lịch sử nước Việt – khoản 600 năm về trước, khi cuộc xâu xé Hồ Trần tạo cơ hội cho nhà Minh bên Trung Quốc sang đô hộ, câu truyện khởi động vào lúc tàn dư của các phe phái bắt đầu liên kết với một hào phú tên Lê Lợi nổi lên tại Lam sơn. Chính sử như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhắc đến nhiều anh hùng, hào kiệt theo phò Lê Lợi, nhưng không nhắc đến một số người mà sách nhà Minh hay lời dân gian tương truyền như Tuấn Thiện, Hà Ất, La My, có công chế biến một thứ vũ khí “khủng” đã giúp quân Lê Lợi đánh tan quân Minh, cuối cùng dành được độc lập. Lê Lợi lên ngôi được 2 năm thì nghe lời dèm pha của bọn nịnh thần mà sát hại các đại công thần. Để rồi sau đó, bí quyết của vũ khí khủng đã tuồn ra ngoài, và “… với [vũ khí] đó phương Tây đã đánh chiếm toàn thể thế giới…Đại Việt lại mất nước một lần nữa, phần vì những [vũ khí] mà chính dân mình là cha đẻ ra chúng ba, bốn trăm năm trước!” 

Tôi liên tưởng: Nước Việt ngày hôm nay…Họa Bắc thuộc lăm le, tranh dành phe phái gay gắt, các công thần bị hại, nhân tài không được trọng dụng, nhân dân than oán… Tác giả muốn trăn trở điều gì? 

Thú thật, nhìn bìa sách và văn phong, tôi thoạt bị hình thức đánh lừa. Ngoài bìa ghi vài chữ Nôm hay chữ Hán mà thế hệ tôi hoàn toàn xa lạ, thậm chí có thể nói là dị ứng. Lật vài trang trong lướt đọc thấy như văn phong sách Tam Quốc Chí hay Đông Châu Liệt Quốc của Trung Quốc, một văn phong hơi lỗi thời, tôi suy diễn người gửi đã gửi lầm người. 

Người gửi vốn là một bậc đàn anh trong giới khoa học kĩ thuật mà tôi đã từng quen biết trên 30 năm nay, một trí thức uyên bác, một vị giáo sư tận tụy và khiêm nhường, được sự kính trọng của mọi người từ các cộng sự viên trên thế giới và trong nước, đến sinh viên, anh tài xế, chị bán hoa ngoài ngõ. Trên hết tôi nể phục anh vì anh có tư tưởng độc lập, dám đề xuất rất sớm phải theo nền khoa học ứng dụng của Mỹ thay vì theo con đường lý thuyết của Liên xô cũ, nơi anh trở thành tiến sĩ vật lý, phải thay đổi cơ chế làm khoa học công nghệ theo kiểu “vườn ươm” của Mỹ. Có lẻ vì vậy mà anh không được thăng tiến cao hơn là viện trưởng một viện khoa học kỉ thuật, không được tham gia hoạch định chính sách quốc gia, không được vào đảng. 

Tôi không ngờ anh chính là tác giả Trần Gia Ninh. 

Vì biết anh là tác giả nên tôi mới tìm cách vượt qua hình thức để tìm hiểu nội dung. Đó là hành trình của anh khai phá một di sản lạ lùng và đầy bí ẩn của gia tộc anh, dòng họ Trần Gia Phố từ Hà Tĩnh: một tấm bìa có khắc 4 chữ Kim Thiếp Vũ Môn (KTVM.) Từ đó anh dám mạnh dạn đế xướng chủ thuyết chính người Việt là người sáng chế ra đầu tiên một thứ vũ khí sau này làm đảo lộn cuộc diện chiến tranh cả thế giới. Để khỏi hé lộ qua nhiều tình tiết tôi sẽ không nêu danh thứ vũ khí đó, mà chỉ mong người đọc kiên nhẫn như tôi. 

Trong câu truyện lớn, nhiều câu truyện nhỏ được tác giả linh hoạt đan xen như lưới nhện, nhảy vọt thời gian và không gian. Để kết nối chúng, tôi phải vẻ ra các sơ đồ địa danh, nhân vật và thời điểm như tác giả Gabriel Garcia Marquez đã làm trong Trăm Năm Cô Đơn. Khởi đầu ta gặp một nhân vật tên Hồ Nguyên Trừng, trai trưởng của Hồ Quý Ly, bị bắt về Trung Quốc nhưng được nhà Minh trọng dụng tại Yên Kinh nhờ tài chế biến một thứ vũ khí giúp vua Minh Thành Tổ bách chiến bách thắng. Trừng ưu tư không biết những đồng môn của mình bên nước Giao Châu như Trần Hằng, La My còn sống hay chết? Sau đó, ta quay sang vùng rừng núi nguyên sơ của đất Hoan Châu (tức Hà Tĩnh, Nghệ An bây giờ) nơi tụ tập của tàn quân Hồ Trần mà quân Minh không dám bén mãng đến. Từ đó không biết bao nhiêu cuộc gặp gỡ ly kỳ, cuộc tình duyên ngộ, những phát minh huyền thoại, đan xen với những trận đánh lịch sử.Sách kết thúc với Lê Lợi lên ngôi, nghe lời dèm pha của bọn nịnh thần như Lê Sát, Phạm Vấn mà hảm hại các trung thần như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Chích. Tác giả cho các nhân vật nửa huyền thoại như Tuấn Thiện, Hà Ất, La Mykịp tránh xa, lui về nơi hoang dã mà yên thân. 

Bốn điểm đặc sắc của sách: thứ nhất là tra cứu công phu, thứ nhì là địa dư, thứ ba ngôn ngữlà đối thoại, và thứ tư là thông tin kỉ thuật. 

Nếu chỉ sống quanh quẩn ở đất nước Việt Nam có lẻ tác giả sẽ không bao giờ tìm ra được lời giải về các chữ Kim Thiếp Vũ Môn. Nhưng định mệnh đưa đấy anh sống trên nhiều nước trên thế giới, thạo nhiều thứ tiếng - tiếng Pháp, Trung, Nga, Anh – giúp anh tra cứu, đối chiếu. Anh cũng sử dụng một số tập tục, hiểu biết của các dân tộc thiểu số, ví dụ về làm thuốc nổ từ phân dơi. Chôn sâu trong sử liệu thế giới, trong gia phả, thần phả dân gian là lời đáp cho huyền thoại KTVM. Vì sao chính sử Việt đã không ghi công những người Việt sáng tạo, mà phải để sử nước ngoài như Minh Thực Lục viết một cách khâm phục? Anh đã có thể viết một bài khảo cứu sử hay nhân chủng học để trình bày chủ thuyết của anh. Nhưng bài đó sẽ rất khô khan. Là một người mạo hiểm, anh muốn dấn thân đến những miền lạ - văn chương dã sử là một. Văn chương dã sử đã cho phép anh tráp các lỗ hỏng của văn kiện lịch sử bằng các truyền thuyết dân gian, các đền miếu ghi tạc, các hiện vật lưu truyền, và bằng trí tưởng tượng để làm sống lên các nhân vật và cảnh ngộ. Chúng tạo thành một tập hơp chứng cứ lồng trong những câu truyện nhân bản và hấp dẫn. 

Thứ nhì, khi viết sách này tác giả không những đưa ta đến những địa danh quen thuộc ghi trong sử sách về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, mà còn đặt chân đến những địa danh chưa từng nghe thấy như Khe Nước Sốt, sông Ngàn Sâu, núi Giăng Màn, thác Vũ Môn vùng quê anh Hà Tĩnh. Thứ ba là việc anh sử dụng một số từ Việt cổ vần còn thông dụng tại địa phương làm tăng vẻ trung thực của các cuộc đối thoại, như “ tắm nác” thay vì “tắm nước”, “Rào Triêm” thay vì “Sông Triêm”, ”Rú Tiên” thay vì “Núi Tiên.”Và thứ tư, khi tả về các phát minh, là một nhà khoa học, anh làm người đọc thấy thú vị vì các phát minh nêu ra đều có cơ sở khoa học, không huyền hoăc như các liều thuốc “trị bách bệnh” nào đó. Tác giả còn cho ta công thức hiện đại của những hợp chất huyền thoại. 

Hai điểm có thể làm khá hơn của sách theo tôi là khắc họa nhân vật và văn phong. Tác giả đã nhấn mạnh mình không phải là nhà văn, nên mọi phác họa nhân vật chỉ là lướt quá, không ai đủ thật để gây thiện cảm hoặc căm giận tuyệt đỉnh trong lòng đọc giả - một điều kiền cần trong một tác phẩm văn chương lớn như Richard III hay King Lear của William Shakespeare.Người đọc bỗng thấy Lê Lợi từ một lảnh tụ nhúng nhường, biết chiêu hiền đãi sĩ, bỗng chốc biến thành kẻ tàn ác, vong ơn bạc nghĩa. Thậm chí nhiều đoạn tả Lê Lợi mâu thuẫn. Lúc đầu Nguyễn Chích khi gặp Lê Lợi lần đầu nhận xét: “cũng có tướng mạo một đế vương, tuy bề ngoài có vẻ thô kệch.” Ở giữa sách thì cho Hà Ất nói với Tuấn Thiện: “Người này có tướng hang long, phục hổ đấy, có lẻ là chân mệnh đế vương.” Sau khi Lê Lợi lên làm vua thì Trần Nguyên Hãn lại nhận xét với Nguyễn Trãi: “…người này có tướng cổ dài, mép quạ, như là tướng mạo của Việt Vương Câu Tiễn không?” Té ra thuật xem tướng mạo của người Việt hơi thiếu … khoa học? Bọn nịnh thần như Lê Sát, Phạm Vấn vẫn là những phác họa sơ sài. Các nhân vật nữ luôn đươc khắc họa như những cô gái ngây thơ, phút chốc bị tiếng sét ái tình. Những nhân vật tài ba như Tuấn Thiện, Lê Văn Linh, Nguyễn Chích vẫn là những bóng mờ. Có lẻ tác giả muốn nhấn mạnh đến trước tiên cái qui trình của phát minh, những yếu tố hội tụ như thời thế, cơ hội, tổ chức, và nhân tài (nhiều chứ phải do một người nào.) 



Nói chung, văn phong thì ngắn gọn theo kiểu sách Tàu, mô tả hành động chứ không phân tích tâm lý, chuông cái điển hình chứ không khoét sâu vào cái phức tạp. Là người biết về văn chương thế giới, có thể tác giả chọn văn phong này vì cho rằng nó dễ hiểu với đa phần người Việt. Theo tôi, đã “thoát Trung” về nội dung thì cũng nên “thoát Trung” về hình thức cho trọn vẹn. 



Vượt lên trên các điểm yếu trên là khả năng soi chiếu của tác phẩm – tôi nhấn mạnh soi chiếu chứ không phải giáo dục, giáo điều. Nó lấy cái đã qua để soi chiếu cái sẽ đến. Soi chiếutheo tôi là đặt những câu hỏi cho đọc giả, đặt những nghi vấn mà chính đọc giả phải trả lời.Một tác phẩm không soi chiếuđược điều gì thì không thể gọi là tác phẩm văn học được. 



Câu hỏi thứ nhất là vì sao chính sử ta không ghi chép những con người sáng tạo như Quốc Trung, La My, Hà Ất, Tuấn Thiện?Có phải tư duy người Việt ta từ xưa nay, thông qua thể chế chính trị và nền văn hóa, giáo dục, thì “bụt nhà không thiêng!”Có phải chúng ta giỏi du nhập chứ không trọng phát minh, thích chạy theo chứ không muốn làm khác, giỏi chống chứ không giỏi khai phá, hay đố kỵ thay vì đoàn kết? 



Câu hỏi thứ hai là sáng tạo liên quan đến mất nước như thể nào? Qua lời của nhà phát minh Lê Trừng bất đắc dĩ phải về làm tôi cho nhà Minh, tác giả nhắc nhở chúng ta về hiểm họa mất nước: “Dân thì tài giỏi, hiền lành mà nước thì mất, như thân ta đây…” mà dễ mất nước khi “không sợ đánh mà chỉ sợ lòng dân không theo.”Anh dùng lời của Xuân Liên khuyên hàng thần Phan Liêu, “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách,” để nói lên tâm tư một sĩ phu thời đại tự vấn mình. 



Câu hỏi thứ ba không bộc lộ nhưng hàm ý: Trên phương diện nhân bản, trong một thế giới càng phẳng, kẻ có tài được nước ngoài trọng dụng như Hồ Công Trừng có xấu xa hơn kẻ ở lại, bị chính chế độ mình góp công xây nên quay lại hãm hại? Ở đoạn cuối, tác giả mượn lời Nguyễn Trãi khuyên ngăn vua Lê Lợi không nên trị tội bọn Hà Ất đã bỏ đi sau khi nước đã dành được độc lập: “Duy kẻ trí lự cao siêu, tinh thông nghề nghiệp như những người này thì không dễ kiếm. Bọn họ là những người kỳ tài, là bậc thầy, là tinh hoa thiên hạ, trong trăm vạn người mới nấy sinh có một. Là của báu của bách tính, nên để họ đem trí tuệ, tài năng làm lợi cho bách tính thiên hạ. Cớ cho ta muốn ép để chiểm hưởng một mình?” Tôi chợt nghĩ đến nguyên tắc “hồng hơn chuyên” đã tiêu hao không biết bao nhiêu tài năng Việt. 

Sử không bao giờ là một môn chết. Như một xã hội, nó chỉ chết khi bị áp đặt, bị cưỡng bức theo một nhãn quan nào đó. Nó phải là một môn sống. Và cũng như một xã hội, nó sống khi được đối chiếu, phản biện, nhìn từ nhiều góc độ, truy cứu nhiều nguồn dữ liệu. Bên sau cuôc truy tìm về nguồn gốc của tác giả, tác phẩm này còn là một phản biện sâu sắc về lịch sử nước ta. 

Đoc sách này xong, tôi có cảm thấy hãnh diện hơn về người Việt không? Có, khi nghĩ rằng, nếu đúng, đây là một phản biện cho cuộc khảo sát gần đây của phương Tây kết luận người Việt đóng góp rất ít cho văn minh nhân loại. Nhưng ước gì, ông cha ta có nhiềuphát minh khác mang lại hạnh phúc bền lâu cho cả nhân loại, thí dụ một tư tưởng nhân bản như chủ thuyết bất bạo động của Ganghi, hoặc một liều thuốc cứu triệu người như penicillin,hay một mạng thông tin mở toàn cầu như Internet. 

Dù sao, tác phẩm khích lệ ta mở rộng tầm nhìn về thế nào là sáng tạo, thế nào là đóng góp cho văn minh nhân loại. Tôi cũng xin mạn phép sửa câu của Nguyễn Trãi nhớ về Lam sơn, “…nhân tài như lá mùa Thu.” Không nhất định không. Không phải nhân tài, mà là thể chế mới như lá mùa Thu. Èo uột. Cỗi cằn. 


Ghi chú 
tác giả là viện trưởng một viện thuộc Viện Khoa học Việt Nam, ông đã nổi tiếng là người luôn đi tiên phong trong chế tạo các thiết bị điện tử tinh vi đạt chuẩn quốc tế, như lần đầu tiên ở nước ta viện của ông đã làm được kính hiển vi điện tử “hiệu ứng đường hầm”có thể nhìn thấy vật thể ở kích thước phân tử…Ông về hưu gần chục năm nay, vẫn chưa ai thay được cái chức “Chủ tịch hội đồng khoa học viện…” Một nhà khoa học tài năng thực sự. đấy lại là một cuốn tiểu thuyết dã sử, chẳng liên quan gì đến chuyên môn của ông. Tác giả lấy bút danh “Thâm giang Trần Gia Ninh” và tựa tiểu thuyết là “Huyền thoại kim thiếp Vũ Môn”. Cuốn tiểu thuyết sinh động, hấp dẫn, mô tả thời kỳ lịch sử ở nước ta cách nay hơn 600 năm. Vào cuối quý 1-2015, Nhà xuất bản Văn học đã ấn hành cuốn tiểu thuyết này và chỉ sau khi ra mắt bạn đọc được ít bữa, Nhà xuất bản Văn học lại cùng Nhà xuất bản Trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh thính nhạy với thị trường văn hóa đọc, đã đề nghị tác giả cho được phối hợp tái bản cuốn sách

Hậu duệ Hai Bà Trưng


Các nhà nghiên cứu ở Indonesia tán thành giả thuyết người Minangkabau đến từ Việt Nam. Nhiều đoạn phim quảng bá du lịch cho đảo Sumatra đã tuyên bố tổ tiên người Minangkabau là người Việt đã di cư đến Nam Dương bằng thuyền, nhằm nhấn mạnh sự độc đáo của nền văn hóa Minangkabau.


Theo giả thuyết nhà nghiên cứu độc lập Trương Thái Du đưa ra, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, vào cuối năm 43 một bộ phận người Việt đã lên thuyền ra khơi và dạt vào Eo biển Malacca nhờ gió mùa Đông Bắc. Tiếp đó, họ định cư tại khu vực phía Tây đảo Sumatra và trở thành dân tộc Minangkabau ngày nay. Ảnh: Cô dâu và chú rể người Minangkabau trong đám cưới.


Tộc người này theo chế độ thị tộc mẫu hệ giống như người Việt cổ. Người nữ giữ quyền thừa kế trong thị tộc gọi là Turun Cicik, em gái của Turun Cicik nằm trong hàng thừa kế thứ hai gọi là Turun Nyi. Hai danh xưng này rất giống tên gọi của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị. Ảnh: Phụ nữ Minangkabau trong trang phục truyền thống.


Kiến trúc truyền thống Minangkabau là những ngôi nhà mái cong vút như cặp sừng trâu, có đường nét giống với nhà sàn hình thuyền trên trống đồng Đông Sơn, được gọi là Rumah Gadang.


Rumah Gadang được thiết kế theo kiểu giống nhà sàn, phần sàn nhà cách mặt đất độ gần 2m, bên trong được chia làm ba phần thông thoáng nhau không có vách ngăn cách, gian chính ngay giữa nhà là gian tiếp khách, còn lại là khu giường ngủ và bếp. Nhà kho chứa nông sản được xây cất riêng, cũng có mái cong như nhà chính.


Những ngôi nhà Rumah Gadang vừa là nơi cư trú, vừa là nơi gặp gỡ hội họp trong gia đình và tiến hành những hoạt động nghi thức cộng đồng. Chúng được truyền đời từ mẹ, sang con gái, và cứ thế nối tiếp đời nọ đến đời kia.


Một nét độc đáo khác thể hiện giá trị văn hóa đặc sắc trong xây dựng là những chi tiết trang trí được thể hiện tinh xảo bằng lối chạm khắc, phối màu sặc sỡ phủ kín quanh nhà từ chân cột lên đến nóc mái. Nhà của trưởng làng – một phụ nữ – thường là ngôi nhà lớn nhất, điêu khắc đẹp nhất.


Người Minangkabau có sự tích về kiểu kiến trúc “sừng trâu” của Rumah Gadang như sau: Ngày xưa có một mối bất hòa giữa người Minangkabau và người Java, và hai bên thỏa thuận chọi trâu để phân định. Người Java đưa ra một con trâu khổng lồ, trong khi người Minangkabau lại dùng một con nghé con, bị bỏ đói nhiều ngày và trên đầu buộc con dao sắc...


Khi vào trận con nghé đói tưởng trâu là mẹ mình, lập tức rúc vào bụng trâu để bú. Con trâu mộng đã bị hạ gục vì dao đâm thủng bụng, và người Minangkabau chiến thắng. Cũng theo sự tích này Minang nghĩa là chiến thắng, kabau là trâu.


Sự tích kể trên tương đồng gần như hoàn toàn với một giai thoại dân gian nổi tiếng của người Việt Nam về chuyện Trạng Quỳnh dùng nghé đấu với trâu chiến của sứ giả Trung Hoa. Phải chăng đây là hai dị bản của một câu chuyện đã có từ thời các cư dân Việt cổ?


Người Minangkabau ngày nay theo đạo Hồi, nhưng tín ngưỡng nguyên bản của họ là thuyết vật linh (thờ linh vật, tin rằng vạn vật có linh hồn). Theo nhiều nhà nghiên cứu, thuyết vật linh là tín ngưỡng đầu tiên của dân tộc Việt, trước khi các đạo Nho, đạo Lão và đạo Phật du nhập. Ảnh: Một điệu múa truyền thống của người Minangkabau.


Cư dân Minangkabau sinh sống bằng nghề trồng lúa từ lâu đời, và họ cũng có tục ăn trầu nhuộm răng cùng nhiếu nét văn hóa khác gần gũi với người Việt.


Các nhà nghiên cứu ở Indonesia cũng tán thành giả thuyết người Minangkabau đến từ Việt Nam. Nhiều đoạn phim quảng bá du lịch cho đảo Sumatra đã tuyên bố tổ tiên người Minangkabau là người Việt đã di cư đến Nam Dương bằng thuyền, nhằm nhấn mạnh sự độc đáo của nền văn hóa Minangkabau.


Ngày nay có hơn 4 triệu người Minangkabau sinh sống tại tỉnh Tây Sumatra, trong khi có hơn 3 triệu người khác sinh sống rải rác tại nhiều thành thị của Indonesia và bán đảo Mã Lai. Nam giới Minangkabau nổi tiếng là những nhà kinh doanh giỏi do phải đi lập nghiệp xa và giao nhà cửa cho người phụ nữ quản lý.

Theo KIẾN THỨC

Tuesday, 26 January 2016

cái chết của những lí tưởng chính trị.


Trong vòng 200 năm trở lại đây, nhân loại đã liên tục chứng kiến cái chết của những lí tưởng chính trị.

Lí tưởng quân chủ đã chết, lí tưởng dân tộc đã chết, lí tưởng cộng sản đã chết, và lí tưởng dân chủ sắp chết. Hết lần này đến lần khác, con người đặt cược vào lí tưởng chính trị toàn bộ của cải, sinh mạng và hạnh phúc của mình cùng người thân. Hết lần này đến lần khác, người ta thua sạch canh bạc ấy trong nỗi thất vọng tràn trề. Họ tin lí tưởng sẽ mang lại hòa bình, nhưng lí tưởng chỉ thúc đẩy chém giết. Họ tin lí tưởng sẽ mang lại thịnh vượng, nhưng lí tưởng chỉ kéo dài đói khổ. Họ tin lí tưởng sẽ thúc đẩy nhân đạo, nhưng mọi thảm kịch nhân đạo trong vòng hai thế kỉ đều có một lí tưởng cao đẹp để nhân danh.

Dù dưới thể chế nào đi nữa, mỗi lần người lãnh đạo nhắc đến lí tưởng chính trị, thể chế ấy lại tiến thêm một bước đến độc đoán chuyên quyền.

Dù là dân tộc nào, mỗi lần dân chúng phát biểu lí tưởng chính trị một cách đồng thanh, dân tộc lại sắp mất hòa bình vì người dân mất lí trí.

Mọi lí tưởng chính trị đều từng là những kẻ giết người hàng loạt. Nhân danh lí tưởng về một xã hội bình đẳng và nhân ái, phần nghèo hơn của nhiều xã hội đã cầm súng giết những phần ít nghèo hơn. Nhân danh lí tưởng về một dân tộc Đức mạnh mẽ và không khuất phục, những người Đức lí tưởng đã treo cổ những người Đức không lí tưởng, cho đến khi cả dân tộc kiệt quệ và bị chiếm đóng suốt một thời gian dài. Nhân danh lí tưởng về quyền con người tối cao, quân đội Mỹ đã tước bỏ quyền sống của hàng triệu người, và biến hàng tỉ người khác thành những nô lệ tình nguyện trong trật tự dollar Mỹ. Nhân danh tất cả những lí tưởng này, người Việt Nam đã và đang giam nhau trong vũng lầy hiện tại.

Dù bênh vực lí tưởng chính trị bằng bao nhiêu lí thuyết, ta cũng phải thừa nhận rằng chưa có lí tưởng chính trị nào trở thành hiện thực, trong khi mọi lí tưởng chính trị đều bị những kẻ lừa đảo dùng làm mồi nhử đám đông.

Đâu là nguyên nhân của thực tế này?

Trước tiên, cần nhớ rằng mọi lí tưởng chính trị đều gắn liền với một lí thuyết chính trị. Trong khi đó, mọi lí thuyết đều đặt nền tảng trên những khái niệm tưởng tượng và những giả định không thể chứng minh. Chẳng hạn, cả “dân tộc”, “giai cấp vô sản” lẫn “nhân quyền” đều là những tập thể chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của con người. Ai có thể định nghĩa dân tộc Pháp nếu nhìn vào cấu tạo nhân chủng, văn hóa và dòng lịch sử rất phức tạp của nước Pháp? Dân tộc Phillipines là gì, ngoài một sản phẩm tưởng tượng của kẻ ngoại xâm? Giai cấp vô sản – tập hợp những người công nhân không sở hữu phương tiện sản xuất, là thành phần cư dân chính trong xã hội tư bản và tồn tại bền vững trong trật tự tư bản – có đang thực sự tồn tại ngoài đời? Và nhân quyền bất khả xâm phạm có thật không, khi trong suốt dòng lịch sử của loài người, chưa từng có con người nào được đảm bảo những quyền đó? Khi mà cho đến ngày nay, người ta vẫn phải biện bạch rằng đó là những quyền mà con người được Chúa ban tặng? Khi mà trong thực tế, chúng chỉ là sản phẩm tưởng tượng trong những bản hợp đồng được kí bởi đám chính khách đang tìm kiếm trật tự quyền lực hậu Thế chiến II?

Mọi lập luận của lí thuyết chính trị đều đặt nền tảng trên những khái niệm tưởng tượng và giả định không thể chứng minh. Và những giả định này lại đến từ những ám ảnh và đam mê mà con người theo đuổi một cách vô thức. Bởi vậy, có thể nói rằng mọi lí tưởng chính trị đều đặt nền tảng trên ảo tưởng, cùng niềm tin rằng mình không ảo tưởng. Lí thuyết càng dài, khái niệm càng nhiều, lập luận càng phức tạp thì lí tưởng càng xa rời hiện thực đang diễn ra.

Thứ hai, càng có nhiều lí tưởng, con người càng có ít tính người. Một nền tảng quan trọng của tính người là khả năng giao tiếp và đồng cảm với đồng loại. Khi theo đuổi lí tưởng chính trị, con người bị khiếm khuyết khả năng ấy. Càng bị lí thuyết chính trị ám ảnh đầu óc và ngôn ngữ, khả năng giao tiếp bình thường và trôi chảy càng kém đi. Càng tôn sùng lí tưởng chính trị, người ta càng bị định kiến chính trị che mắt và bịt lỗ tai. Thay vì đồng cảm với những người xung quanh, họ chỉ muốn đồng hóa mọi người vào lí tưởng mà họ theo đuổi.

Vì vậy, cả “người cộng sản”, “người dân tộc” lẫn “người dân chủ” đều thiếu thông minh và thiếu nhân tính. Lớp mặt nạ mĩ từ đeo trên mặt họ càng dày, thì nhân tính của họ càng vơi. Lượng lí thuyết trong đầu họ càng đậm đặc, thì họ càng khó cảm nhận thực tế đang diễn ra ngoài đời.

Tuy nhiên, người hoạt động chính trị vẫn cần hiểu lí thuyết.

Và cần hiểu nhiều hệ lí thuyết, thay vì chỉ một.

Nhờ thế, mới đỡ bị lừa bởi những người cuồng lí tưởng, mà vẫn có khả năng giao tiếp và đồng cảm với họ khi nhu cầu công việc đặt ra.

Khi thông thạo nhiều hệ lí thuyết cùng lúc, ta cũng có được khả năng nhìn vấn đề từ nhiều khía cạnh, qua cái nhìn của nhiều nhóm lợi ích khác biệt, để tìm giải pháp tối ưu cho vấn đề.

“Một giọt từ sự đọa đày”


  Những nghịch lý của tồn tại

Khi cuốn sách “Câu chuyện vô hình & Đảo” của Hamvas Béla được dịch bởi dịch giả Nguyễn Hồng Nhung và NXB Tri Thức ấn hành tại Việt Nam, các độc giả đã phải “rợn tóc gáy” vì những gì triết gia người Hungary này viết. Những điều ông viết chạm vào nỗi cô đơn, sự kiêu ngạo và ước mong nổi loạn thầm kín của Titan bên trong mỗi con người… đồng thời lại khiến người đọc rơi vào trạng thái mênh mang vô tận của tồn tại.

Cuốn sách “Một giọt từ sự đọa đày” là cuốn sách thứ hai của ông mới được xuất bản ở Việt Nam, là tập hợp những tiểu luận của ông. Tất cả những tiểu luận này không nói về sự nổi dậy của những Titan nữa, mà để chúng ta ở trong những nghịch lý của kẻ cô đơn giữa cộng đồng và giữa tồn tại. Đồng thời, với góc nhìn của kẻ cô đơn ấy, cộng đồng và tồn tại cũng là những nghịch lý.

Cuốn sách của nhà vua cô đơn

Ghi chép buổi sáng

Tâm lý học của việc ngắt hoa

Thiền định trên núi lúc hoàng hôn hay là siêu hình học của hành động người


Viết về Jourdain


Hyperion Hungary

Viết về cuộc Cách mạng 1956 ở Hungary

Sự sống và đời sống

Ba nguồn

Người thày của đời sống

Văn hóa cổ và văn hóa thời hiện đại

Lý thuyết và nguyên lý

Chứng thực sau cùng của những dằn vặt thời đại

Một giọt từ sự đọa đày

Tranh Mặc họa Trung Quốc

Giải phẫu sự u sầu

Đạo đức thẳng thừng và lương tâm cắn rứt

Nhưng cho dù nghịch lý, Hamvas Béla vẫn hướng tới những điều thiêng liêng, cao cả, hướng tới sự siêu việt: “… với chúng ta, chúng ta cần nâng bản thân mình lên cao hơn. Siêu nhân, siêu việt như Nietzsche nói. Hiện thực của tác phẩm cuộc đời là sự siêu thực. Cái là đời sống, tạm thời và phi dáng hình. Cần phải sống tận cùng số phận, hoàn tất, khóa lại, cần phải cao hơn đời sống một bước, như đền thờ Parthenon”

Sunday, 24 January 2016

Người đàn ông bị đóng băng hàng giờ được cứu sống kỳ diệu

Một người đàn ông 25 tuổi, bị đóng băng do lở tuyết đã được cứu sống bởi các bác sĩ sau khi họ chẩn đoán rằng có thể anh ta đã chết.

Justin smith
Justin Smith bị đóng băng hàng giờ và được cứu sống kỳ diệu.

Justin Smith đã bị lạnh cóng khi các nhân viên y tế chạm vào và họ cho rằng đã qua đời vì bị giảm thân nhiệt nghiêm trọngTuy nhiên, theo báo cáo của The Washington Post, sau một nỗ lực cuối cùng để hồi phục lại trái tim của mình, anh ta đã được cứu sống chống lại tất cả các tỷ lệ cược trong một lần đầu tiên cho khoa học y tế.
Justin Smith được tìm thấy trên đường gấn nhà
Justin Smith được tìm thấy trên con đường gần nhà ở McAdoo, Pensylvania. Ảnh: WNEP-TV

Tháng Hai năm ngoái 2015, Smith đã được tìm thấy gần như hoàn toàn bị bao phủ bởi tuyết ở phía bên của một con đường hoang vắng. Một nhân viên khám nghiệm, đến nơi, nghĩ rằng anh ta đã nằm ở đó, ở nhiệt độ -20 ° C (-4 ° F), trong vòng 12 giờ. Nhân viên đã kiểm tra nhịp tim và không tìm thấy gì. Nhiệt độ cơ thể của người đàn ông thậm chí còn không thấy khi sử dụng một nhiệt kế kỹ thuật số.

Smith đã được chuyển đến bệnh viện Lehigh Valley bằng trực thăng. Nhóm các bác sĩ và y tá ở đó đã cố gắng để làm ấm anh ta lên và khởi động lại tim của anh ta bằng cách sử dụng hồi sức tim phổi (CPR), nhưng không có kết quả. Gerald Coleman, các bác sĩ khoa cấp cứu túc trực ở bệnh viện, quyết định để một thử nghiệm kali (potassium test) cho Smith.

Kali là rất quan trọng cho việc giao tiếp giữa các dây thần kinh và cơ bắp, bao gồm cả trong tim. Một nồng độ cao trong máu chỉ ra rằng các hoạt động cơ tim giảm đáng kể; trong trường hợp của Smith, điều này sẽ có nghĩa là trái tim của ông là rất khó để khởi động lại. Tuy nhiên, khi kết quả đã trở lại bình thường, các bác sĩ nghĩ rằng anh ta đã có một cơ hội.

Sử dụng một kỹ thuật gọi là extracorporeal màng oxy hóa (ECMO), ấm, oxy máu đã được truyền vào trái tim của Smith và qua các phần còn lại của cơ thể của mình;  nó có hiệu quả như một trái tim nhân tạo. Trái tim anh ta bắt đầu rung lên, các bác sĩ tiếp tục cho gây shock lên tim để nó đập trở lại.

Máy thở được sử dụng để hỗ trợ cho Smith và các thủ thuật ECMO được tiếp tục trong một thời gian. Nhân viên y tế nghĩ rằng có thể anh ấy đã bị chết não, nhưng máy quét đã nhận được các tín hiệu điện phát ra bởi hoạt động của hệ thần kinh trở lại hoàn toàn bình thường. Anh đã tỉnh lại từ tình trạng hôn mê của mình, và một năm sau, ngoài việc mất ngón chân và ngón tay út do sự tê cóng, Smith là trở lại hoàn toàn khỏe mạnh.

"Không có con người nào có thể tồn tại dưới cái lạnh và nhiệt độ cơ thể khoảng 18 ° C (64 ° F) và một không có nhịp tim trong 12 giờ - nhưng Justin Smith đã làm", John E. Castaldo, trưởng phân khoa thần kinh học trong mạng lưới y tế Lehigh Valley, cho biết.

Bí mật sống sót nằm trong khả năng của cơ thể để làm chậm quá trình chuyển hóa của nó - quá trình có thể chuyển đổi oxy và chất dinh dưỡng thành năng lượng. Đối với mỗi một độ C nhiệt độ cơ thể giảm xuống, sự trao đổi chất giảm nhiều nhất là 7 phần trăm. Điều này có nghĩa rằng, ở nhiệt độ lạnh hơn, các tế bào trong cơ thể cần ít oxy và nhịp tim bắt đầu chậm lại, bảo tồn năng lượng của cơ thể.
Smith ôm cảm ơn các nhân viên y tế
Smith ôm cảm ơn các nhân viên y tế tại bệnh viện Lehigh Valley những người đã cứu sống anh.

Smith là người lạnh nhất được biết đến trong khoa học y tế đã sống sót sau khi bị hạ thân nhiệt cực độ, và các nhà khoa học vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn về việc bộ não của anh đã hoàn toàn không bị tổn thương.

(Theo IFLScience)

Nhà khoa học mạo hiểm mạng sống để chứng minh định luật vật lý

Nhà vật lý học Andreas Wahl đã mạo hiểm mạng sống của chính mình để chứng minh định luật của vật lý.

Nhà vật lý Andreas mạo hiểm mạng sống để chứng minh định luật vật lý

Nhà vật lý Andreas biết rằng các vật thể chuyển động tròn quanh nhanh hơn khi chúng đến gần điểm trung tâm.

Ông muốn chứng minh định luật của Newton về chuyển động tròn và làm thế nào vật thể với lực hướng tâm, tác dụng lực lên vật chuyển động theo quỹ đạo cong sẽ gia tốc khi chúng đạt gần đến điểm trung tâm. Do đó ông đã đặt cược mình bằng cách thả mình xuống đất ở độ cao 14 m chỉ với một  dây cáp mềm và đầu kia của dây được gắn với vật nặng.

Xem video:


Điên loạn và thấu thị


LÊ MINH PHONG

(Nhân đọc Van Gogh của David Haziot, Phan Hồng Hạnh chuyển ngữ, Nxb. Đà Nẵng, 2014)


Ngày 01 tháng 09 năm 1888, trong thư cho Théo, Vincent Van Gogh viết: “Trong cuộc đời và cả trọng hội họa cũng vậy, rất có thể anh bỏ qua không cần Thượng Đế, nhưng anh, kẻ khổ đau, anh không thể bỏ qua không cần tới một điều cao viễn hơn anh, chính là đời anh: quyền năng sáng tạo.” Như vậy, Van Gogh tự xưng mình là kẻ khổ đau, khổ đau để được sáng tạo. Trong nghệ thuật, điều này là hiển nhiên. Kẻ sáng tạo tất yếu phải gánh lấy những bi kịch, bi kịch mà chính anh ta không đủ quyền năng để cự tuyệt nó. Những vết chém hằn sâu trong niềm thống khổ trở thành suối nguồn sáng tạo.

Theo chân David Haziot, chúng ta biết rằng đối với Van Gogh, bi kịch trở thành một danh từ cao quý, chàng không chạy trốn bi kịch, mà ngược lại, chàng hân hoan rút tỉa năng lượng từ những bi kịch của chính cuộc đời chàng và của tha nhân. Ngay cả về sau này, trong cuốn Bi kịch, Adrian Pool cũng đã tự truy vấn rằng chúng ta có thể hình dung ra một thế giới không có bi kịch được không. Câu trả lời là không. Không thể có một thế giới thiếu vắng bi kịch. Thiếu vắng bi kịch thì thế giới ấy sẽ không có sáng tạo. Cũng nhờ lưu trú trong một xã hội nhiều bi kịch mà Van Gogh đã kiến thiết nên một hữu thể cho riêng mình, thế giới của một chàng trai tổng hợp trong mình những yếu tố của một kẻ sáng tạo, một nhà cách mạng, thậm chí là khí chất của một kẻ nổi loạn, một kẻ điên loạn, một kẻ bị trời nguyền lao vào rút tỉa thế giới không hề biết khoan nhượng.

Tròn một năm sau ngày sinh của người anh chết lúc sơ sinh, cũng mang tên là Vincent Willem Van Gogh, ngày 30 tháng 3 năm 1853 Van Gogh ra đời. Khi biết thức nhận thế giới, Van Gogh nhìn vào ngôi mộ của người anh như thể nhìn vào ngôi mộ của chính mình. Ngôi mộ mà Haziot không ngần ngại gọi làNgôi mộ biểu tượng cho một án tích. Đây có lẽ là nơi khởi đi cho những bị kịch triền miên trong kiếp sống của Van Gogh. Viện dẫn tới các nhà tâm lý học, David Haziot viết rằng: “Mặc cảm nguyên nhân gây ra cái chết cho người đi trước luôn khiến đứa bé được sống sau này không thoát ra được ám ảnh tội lỗi. Điều này thường hằn sâu trong tiềm thức và có tính quyết định trong việc hình thành cá tính…”. Như vậy, ngay từ bình minh của cuộc đời, Van Gogh đã phải cạnh tranh với một người đã chết để được sinh tồn.

Viết về cuộc đời của một kẻ sáng tạo hẳn nhiên người viết phải có bản lĩnh. Nếu không có bản lĩnh vững vàng thì Haziot không thể đi sâu thăm dò những va chấn, những khai mở về mặt nghệ thuật của Van Gogh. Nhờ có căn nền vững vàng về tâm lý học, triết học, mỹ học, xã hội học, hội họa,… mà qua từng chương sách, Haziot đã dẫn người đọc vào thăm dò thế giới của Van Gogh, một thế giới đầy xáo trộn, đầy tính gây hấn bởi sự phá bỏ những luật tắc ứng xử về mặt xã hội của chính danh họa này. Tất nhiên, để thấy được bức tranh bi tráng về cuộc đời Van Gogh qua cuốn sách của Haziot, người đọc không thể không gửi tới dịch giả Phan Hồng Hạnh một lời cảm ơn bởi sự chuyển ngữ một cách lịch duyệt của dịch giả này. Van Gogh của David Haziot đã được giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp vào năm 2008. Đây thực sự là một bức tranh toàn cảnh nhưng hết sức cụ thể về cuộc đời cũng như về thế giới nghệ thuật của thiên tài Van Gogh.

Trong bức tranh toàn cảnh về Van Gogh mà David Haziot đã công phu vẽ nên, có nhiều dấu mốc quan trọng trong việc hình thành nên diện mạo của chàng, nhưng điều đáng lưu ý sau Ngôi mộ biểu tượng cho một án tích là đặc điểm của gia đình và dòng họ, nơi từ đó chàng khởi đi. Dòng họ Van Gogh được xem là dòng họ có nhiều người có kiến thức ưu việt, khôn ngoan, đảm đang, thông minh,… Hơn nữa, mẹ của Van Gogh, bà Anna Cornelia Carbentus là người đàn bà có thiên phú về hội họa. Nhưng tất cả đó chưa đủ để về sau Van Gogh trở thành một thiên tài. Sâu xa nhất cho suối nguồn sáng tạo, suối nguồn phá bỏ mọi luật tục để vươn lên sáng tạo trong chàng, đó là chàng được khởi đi từ một dòng họ có truyền thống điên loạn. David Haziot viết: “Nhiều Van Gogh đã là đối tượng cho những cơn điên loạn. Chúng quật ngã họ, nhấn chìm họ vào những cơn suy nhược thần kinh trầm trọng, hoặc ngắn hoặc dài… Em của Van Gogh, Wilhelmina chết trong nhà thương điên vào năm 1941, thọ 79 tuổi; bác Cent người buôn tranh giàu có cũng bị suy nhược trầm trọng, và về sau, Cor, em trai của Vincent đã tự tử ở Nam Phi…”. Dòng máu điên loạn này đã ngầm ẩn trong con người của Van Gogh, dù ý thức hay không ý thức được nó chàng cũng đã bị/ được thừa hưởng một sự điên loạn ngầm ẩn, điên loạn để cho những ý tưởng sáng tạo, ý tưởng về sự hủy diệt và tạo sinh liên tiếp được sinh sôi từ huyết quản của chàng. Cộng thông với điều đó, Van Gogh lại ra đời trong một bối cảnh gia đình và xã hội có nhiều phiền muộn. Ông bước vào sân khấu cuộc đời với một tâm thế u uẩn, điều này được minh chứng ở việc ông đã từng quay lưng với những đề tài thời thượng, ông nhốt mình trong những hoài niệm và hoan hỉ với những âm mưu dự phóng.

Van Gogh của David Haziot là một cuốn sách giàu có về mặt tư liệu về cuộc đời nhiều bi kịch của thiên tài hội họa này. Sự miêu tả tỉ mỉ những dấu mốc trong cuộc đời của Van Gogh, những yếu tố quan trọng nhất để hun đúc nên một thiên tài được chuyên chở dưới lớp ngôn ngữ phóng khoáng, khoái hoạt của David Haziot dường như đã vẫy gọi người đọc đu theo những cuộc đập phá hoang tàn, những hoang tưởng, mơ mộng của chính người họa sĩ tài danh và u sầu. Đây là nơi chúng ta biết được căn nguyên nào khiến cho Van Gogh từ bỏ con đường giáo sĩ để lao vào nghệ thuật, từ bỏ việc thuyết giảng về thế giới của đấng tối cao để kiến tạo nên thế giới riêng biệt của mình. Từ công trình này, chúng ta biết thêm về sứ mệnh của Théo đối với Van Gogh, về vai trò của tình yêu, của bằng hữu đối với danh họa này. Cũng từ đây, chúng ta biết thêm về sức mạnh của sự nổi loạn, về điên loạn và về cái chết.

David Haziot gọi Van Gogh là Kẻ rong chơi cô đơn và hoang dại. Rong chơi - cô đơn - hoang dại chính là những yếu tố cần thiết để cấu nên SÁNG TẠO. Mà sáng tạo không ngoài gì khác là kiến thiết nên cái MỚI và cái KHÁC. Kẻ rong chơi tự do bát ngát Vincent đã làm được điều đó. Qua từng trang sách, David Haziot đã bám vào những tư liệu có được và từ những thư từ của Van Gogh để soi sáng hướng đi của thiên tài này. Van Gogh ngay từ thơ ấu đã biết rút tỉa thế giới trong những cuộc rong chơi của chính chàng. Những cuộc rong chơi thời thơ ấu thường là những mầm mống cho những nỗ lực khai phá về sau. Những cuộc rong chơi thời thơ ấu thường là những cuộc rong chơi không biên giới, không luật tục, những cuộc rong chơi bát ngát khi chưa nhuốm màu sắc khô cứng của lí trí thường dẫn trẻ thơ đi vào những nơi chốn mộng mị. Bắt đầu cho cuộc rong chơi của Van Gogh, Haziot liên tưởng tới những tư tưởng của nhà phân tâm học về lửa Bachelard, khi Bachelard gọi thời thơ ấu của Poe là ‘bể chứa của cảm xúc, của tri giác xa xưa đầy mộng mị, ở đó, người nghệ sĩ sẽ uống cạn trong suốt cuộc đời mình.” Mộng mơ của chàng Van Gogh bắt đầu từ những tháng năm ấu thơ đầy mộng tưởng này. Từ những ngày bình minh, Van Gogh đã biết trầm mặc ngay trong cuộc rong chơi của chàng. Người ta nhớ tới chàng là “một cậu bé trầm mặc, riêng rẽ, ít thích giao du, khó tính, cứng đầu và liều lĩnh…”. Chàng rong chơi, nhưng đó là những cuộc rong chơi không kèn trống của trẻ thơ, chàng thu mình trong tịch liêu, lặng lẽ để âm thầm nhìn ngắm thế giới, để thiên nhiên len lỏi vào chàng, để cuộc sống lắm u sầu quanh chàng được tự do nảy nở thành suối nguồn sáng tạo của chàng về sau. Haziot viết: “Có khi ông rời nhà đến hàng chục cây số để khám phá thiên nhiên. Quan sát nhạy bén, ông đam mê các loài hoa dại, biết phải tìm chúng ở chốn nào, thuộc lòng các ngách ngõ của đồng quê, say sưa với các loại côn trùng và những loài vật sống dưới nước, biết làm thế nào để bắt chúng, ông có thể gọi tên từng con vật một…”. Nhưng thiên nhiên hoang dại chưa đủ để làm nên những kiệt tác về sau. Sự va đập của thiên nhiên rộng lớn và bóng tối u uất ngay từ nhỏ đã găm vào tiềm thức của Van Gogh. Sau khi mơ mộng với thiên nhiên và những loài côn trùng, ngay lập tức sau đó chàng bị tống vào trường nội trú Jean Provily ở Zevenbergen. Đây là một nơi tăm tối đầy sợ hãi đối với một cánh chim non dại cô đơn. Bóng tối nơi đây đã cướp đi những gì đẹp đẽ nhất trên những cánh đồng mênh mông ở xứ Hà Lan. Nhưng về sau, trong vô thức sáng tạo, chàng đã rút tỉa những tháng ngày đầy bóng tối này.

Trong sự cô đơn của một con thú bị thương cần một hang ổ để lẩn trốn, khi chàng trở về ngôi nhà của gia đình chàng, chàng đau khổ thốt lên: “Người ta ngần ngại đón tôi về nhà, như ngần ngại đón một con chó xù, nó vào nhà với những chiếc răng ướt át và lông lá xồm xoàm. Nó làm phiền mọi người. Và nó rủa ồn ào. Tóm lại - đó là một con vật dơ bẩn...”.
Tác phẩm Những người ăn khoai (1885)



Từ thẳm sâu cô độc, chàng hướng tới những người cùng khổ, những người lao khổ trong hầm mỏ, trên ruộng đồng, bên hè phố, những người đang câm nín vuốt lên sự tủi nhục của thân phận. Những họa phẩm như Những người ăn khoai, Tĩnh vật và quyển thánh kinh mở rộng... là những tác phẩm được vẽ bằng máu và nước mắt của chàng. Những họa phẩm chàng vẽ sau khi nếm đủ những vết chém ở đời. Những họa phẩm đi ra từ sự xung đột giữa đời sống trần trụi và thượng đế trên tháp ngà.

Qua cuốn Van Gogh, chúng ta được biết những tác phẩm của Van Gogh không được vẽ trên thiên đường mà vẽ trong nơi tối tăm, nơi hang ổ thiếu ánh sáng của chàng, nơi đấy chàng đu mình theo những mộng tưởng và những tiếng thét trong tâm can. Chàng thốt lên trong nơi tối tăm ấy rằng: “Nên hiểu rằng anh tin anh có thể làm tất cả những gì không tổn hại đến những người xung quanh, vì bổn phận của anh là phải vinh danh cho sự tự do. Sự tự do mà trên đó anh có quyền tuyệt đối. Theo anh nghĩ, không chỉ mình anh mà mỗi một người trong chúng ta, cần phải bày tỏ thái độ và nắm giữ sự tự do này...”. Trong khát vọng tự do tuyệt đối, chàng lưu vong ngay trong ngôi nhà của mình và ngay trên quê hương của mình. Chàng lưu vong và dự phóng về một miền đất hứa xa vời nào đó trong khung cảnh tồi tàn. Ta hãy nghe Kerssemakers, một tình bạn ban sơ của chàng, miêu tả về hang ổ của chàng: “Cạnh lò sưởi không bao giờ được lau chùi quét dọn, là một đống tro khổng lồ, hai chiếc ghế mòn cũ, có khoảng ba mươi tổ chim đựng trong tủ, có nhiều chim được độn rơm, những cây cỏ tìm được trong những cuộc rong chơi, những dụng cụ đồng áng, những chiếc mũ cũ kỹ...”. Tất cả đó là xưởng vẽ của một danh họa thượng thừa.
Tác phẩm Sọ người ngậm mẩu thuốc lá bốc khói (1885)



Chàng lang thang rày đây mai đó với những tháng ngày đói lả. Cái chết luôn là nỗi ám ảnh đối với Van Gogh. Cái chết là nỗi ám ảnh nhưng cũng là suối nguồn cho chàng có thêm sức mạnh sáng tạo để giành giật với những phút giây hiện hữu ngắn ngủi trên trần gian. Bức Sọ người ngậm mẩu thuốc lá bốc khóiminh chứng cho điều đó. David Haziot đã phân tích tác phẩm này một cách tỉ mỉ: “Một bộ xương người trên nền đen, cắt ngang vai như là một người làm mẫu, một mẩu thuốc lá bốc khói cắn chặt giữa hai hàm răng, hình như là chiếc sọ đang hút thực sự. Một bức tranh siêu thực đi trước thời cuộc, xứng danh với Magritte hay Picabia mà người ta nhìn một cách lơ đãng trong bảo tàng và cho rằng đó là trò đùa của một họa sĩ vô tài…”. Bức tranh cho thấy tâm trạng âu lo đầy phiền muộn của chàng. Và đó phải chăng chính là chàng với những đớn đau. Chàng không chạy trốn cái chết mà hân hoan đón nhận nó. Và ở Anvers chàng bắt đầu với những bức chân dụng tự họa đầu tiên. Chàng đẩy những phiền muộn của mình vào những bức tự họa với những nét cọ mạnh mẽ mang màu sắc phẫn uất mà Haziot cho rằng “chúng mang dáng dấp của một người đang bị lún sâu vào một cõi tối tăm hay một thực tại đen tối, quánh đặc không thể nào thoát ra được…”.
Tác phẩm Đêm đầy sao (1889)



Ngày 28 tháng 2 năm 1886 chàng tới Paris, thành phố của sự phản tỉnh, thành phố của những kích động cuồng điên… Đây có lẽ là một dấu mốc trọng đại trong cuộc đời bi thảm của chàng. Nơi đây “chàng đã lặn hụp thực sự trong một Paris của những lạc thú, ngạo mạn, nơi có điều kiện thuận lợi để nẩy nở những ý tưởng táo bạo nhất”. Nơi đây, những họa sĩ phái ấn tượng đã đem đến một sự mê hoặc đối với chàng về sự rung động của màu sắc. Ở Paris, theo Haziot thì Van Gogh chính là một bộ hành không mỏi mệt, chàng vẽ điên cuồng khi cuộc đời và ngoại giới không ngừng va đập vào tâm thức chàng. Những bức chân dụng tự họa của chàng trong giai đoạn này như chính là những câu hỏi chàng tự truy vấn về bản thể của mình, chúng chính là câu hỏi: Tôi là ai? Trong sự thấu cảm một họa sĩ vĩ đại của thế giới, Haziot đi sâu vào từng tác phẩm nổi danh của Van Gogh như một bậc thầy phân tích hội họa. Thật tuyệt vời khi tác giả của cuốn sách này viết: “Những bức chân dung tự họa của Vincent đã tái xác nhận tính ưu việt của cá thể, cái tôi đối diện với phần còn lại của ngoại giới. Cái tôi đã sống như một tình huống bất hạnh của một xã hội cực kỳ khắt khe mà người nghệ sĩ này đã gặp.” Nơi đây, chàng vẽ như chưa bao giờ được vẽ để rồi khi thân xác tan đi, chàng đã để lại cho chúng ta sự nghiệp đồ sộ của mình. Vincent ngụp lặn thả mình hoàn toàn theo những màu vàng, màu hoàng kim, màu xanh. Mọi giác quan chàng căng ra để đón nhận thế giới và chàng cũng đốt cháy nội giới của mình thành tàn tro để nghệ thuật tung cánh. Có lẽ sẽ chẳng bao giờ có ai có thể lý giải được một cách thuyết phục về sức làm việc của chàng, sự đam mê của chàng và khả năng chịu đựng bệnh tật của chàng.
Tác phẩm: Cánh đồng lúa mỳ và những con quạ (1890)



Nhưng con người, dẫu là một kẻ sáng tạo phi thường cũng không thể chống lại được số mệnh. Ám ảnh về những vết thương và về cái mộ phần từ hồi ức thơ ấu đã trở lại với chàng. Rượu nặng, cuộc sống về đêm, lao mình vào những cuộc sáng tạo không ngơi nghỉ… đã vắt kiệt sinh lực Van Gogh, và rồi chàng điên loạn tự cắt tai chính mình. Điên loạn một cách rực sỡ, điên loạn để lần tìm về quá khứ bằng những mảnh vỡ từ tiềm thức sâu hút và không rõ hình thù. Có lẽ sự điên loạn đã bắt đầu cuộc chơi của nó bằng chính những san phẳng các luật tắc của chính chàng. Điên loạn để thấu thị. Chàng trở nên thèm mùi vị của những viên long não có mùi thật nồng dưới gối và nệm. Haziot viết rằng: “Địa ngục khép kín này dường như là một cảnh tượng hoang đường chỉ có trong tiểu thuyết mà tác giả của nó đã khoái trá chiêm ngưỡng cái chết và sự hủy hoại mà con người có thể đã đạt được một cách thẩm mỹ nhất”. Mấy ai biết rằng có một sự thật chua xót cho thiên tài của chúng ta. Đó là vào những ngày tháng chàng điên loạn người ta phỉ nhổ chàng, chàng là đối tượng cho những lời chế diễu, giỡn cợt, nhạo báng. Chàng không thoát khỏi được sự vây khốn trong nỗi hoảng loạn, sự chấp chới giữa điên và tỉnh, sự tham muốn vươn tới những bến bờ của một kẻ sinh ra đã đi trước đám đông mê lú. Vào ngày 21 tháng 4, bi kịch về thân phận của một họa sĩ đã đi đến đỉnh điểm khi chàng loan báo rằng chàng muốn được bị giam để “an lành cho những người khác.”

Chiều ngày 27 tháng 7, Van Gogh bắn một phát súng vào ngực, về phía trái nhưng không trúng tim. Giờ phút cuối cùng đã đến, chàng hân hoan đón nhận cái chết ngay trên tay Théo. “Bây giờ anh muốn trở về…”. Đó là câu nói cuối cùng của một thiên tài sau khi đã mang vác trên thân phận mình bao nỗi nghiệt ngã, bao đau đớn điên cuồng nhưng vô cùng rực rỡ trong những tháng ngày chàng lưu trú trên mặt đất hoang vu. Lúc đó là 1 giờ 30 phút, thứ ba, ngày 29 tháng 7 năm 1890.

L.M.P
(SDB15/12-14)

Thần thoại hóa hiện thực


LÊ HUỲNH LÂM

"Nghệ thuật không phải là vẽ lại các đồ vật, con người mà họa sĩ thấy. Nghệ thuật phải là sáng tạo nên các đồ vật, con người không thấy được."(Paul Klee)

Con đom đóm

Những thập niên đầu thế kỷ XXI, nghệ thuật tạo hình của người Việt Nam ở nước ngoài đã phần nào tiếp cận được nền hội họa thế giới, không kể đến thế hệ tiên phong vào thế kỷ XX như các họa sĩ Lê Văn Đệ, người Á đông đầu tiên được nhận vào hội nghệ sĩ Quốc gia Pháp; họa sĩ Lê Phổ định cư ở Pháp năm 1937, vào năm 2014 tác phẩm "Nhìn từ đỉnh đồi" được đấu giá lên đến 840.000 đô la; nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học, văn học và nghệ thuật châu Âu vào năm 1992, và tên bà được ghi vào danh sách những tài năng lớn của nghệ thuật thế kỷ XX trong từ điển Larousse. Gần đây xuất hiện họa sĩ Nguyễn Đại Giang ở Mỹ, họa sĩ Nguyễn Đình Đăng ở Nhật. Đặc biệt, trường hợp Nguyễn Đình Đăng, ông là một nhà khoa học, tiến sĩ vật lý chuyên ngành hạt nhân, nhưng trong lĩnh vực hội họa ông đã khiến mọi người ngạc nhiên với rất nhiều cuộc triển lãm quốc tế và nhiều giải thưởng danh giá. Sau những chuyến thuyết trình về hội họa do trường Mỹ thuật Hà Nội mời, ông đã góp phần mở ra cho nền hội họa Việt Nam những cái nhìn khác về nghệ thuật và kỹ thuật của màu sắc trong hội họa. Đặc biệt buổi nói chuyện về kỹ thuật sơn dầu, về lý thuyết tương tác giữa các màu sắc, và những cuộc trao đổi về hội họa của ông đã thổi luồng không khí sôi động trong giới họa sĩ trẻ trong nước. Ngoài lý thuyết về hội họa mà ông đã nghiên cứu và thể nghiệm, Nguyễn Đình Đăng đã sáng tác nhiều tác phẩm và nhiều lần triển lãm để lại ấn tượng mạnh nơi người xem.

Sắc màu băng tuyết 

Nếu quan sát quá trình sáng tác của họa sĩ này, chúng ta có thể nhận ra màu sắc trong tác phẩm của ông thuộc về vùng trời phía cực bắc, nơi đó từng lớp mỏng của nền trời được ông kéo vào không gian của trí tưởng tượng với nhiều áng mây mỏng thật mềm xếp chồng lên nhau. Màu sắc của diệp lục tố khi đã về chiều gợi cảm giác cô quạnh, sắc xanh nhạt kéo xa ánh nhìn của người xem vào thế giới bất tận, thỉnh thoảng những dát vàng như cứu vớt cho những giấc mơ của con người, như “Những bài thơ của cha”, “Ma trận linh thiêng”.

Không gian, thời gian và sự chuyển động 

Yếu tố không gian là điều bất biến trong cuộc sống cũng như trong hội họa, nhưng không gian trong tranh của Nguyễn Đình Đăng dàn trải dẫn đưa trí tưởng người xem đến một chân trời rất xa, như câu thơ trong Truyện Kiều Cỏ non xanh tận chân trời; ngược lại với khoảng cách xa xăm do kỹ thuật hội họa tạo nên và phần nào đã bị giới hạn do cấu trúc của nhãn quan và hệ thần kinh thị giác của người xem là những hình thể rất gần như để lột tả hiện thực của cuộc sống trơ trụi. Điều khác lạ trong khi biểu hiện không gian trong tranh của Nguyễn Đình Đăng là yếu tố thời gian, chính sự chuyển động trong tác phẩm của ông đã làm nên chiều thứ tư bí ẩn trên bề mặt phẳng của chất liệu, như tác phẩm “Lối ra”, “Con đom đóm”. Người xem như dự phần vào không gian đó, nên đã hóa thân thành một hình thể vào trong tác phẩm lúc nào mà không hay.
Lối ra



Thần thoại trong hiện thực và những giấc mơ 

Một trong những điều gây ám ảnh và ấn tượng mạnh nơi người thưởng ngoạn chính là sự nối ghép giữa các hình thế để tạo ra yếu tố thần thoại đã bị đánh mất trong cuộc sống hiện thực. Như những hình người có đầu của bạch tuộc, hoặc sự biến dạng của chiếc đàn dương cầm, chính là sự tương đối qua lăng kính của mỗi người khi nhìn sự vật ở nhiều góc độ khác nhau.

Cũng như hình tượng nàng tiên cá, hình tượng rồng đã xuất hiện trong dân gian, Nguyễn Đình Đăng đã tạo ra những hình tượng mới cho thần thoại, trong thần thoại luôn có thiện và ác. Chúng ta có thể nhìn thấy trong tác phẩm của Nguyễn Đình Đăng hai cực của tính biểu tượng. Như tác phẩm “Giấc mơ bạch tuộc”, “Ánh trăng”, “Những con chim không đầu”, “Công cua”, đã gợi nhắc đến một xã hội biến thái, hủy hoại môi trường sống của con người và bị môi trường tác động ngược trở lại. Những hình thể lơ lững hoặc những ước lệ tương đối ẩn hiện trong tác phẩm của ông gợi tưởng đến nhà vật lý lừng danh Isaac Newton cũng như con người vĩ đại đẻ ra thuyết tương đối Albert Einstein. Phía đằng sau những biểu tượng đó là cả niềm hưng cảm thần bí về tôn giáo.
Ánh trăng
Giấc mơ bạch tuộc



Chỉ nhìn tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Đình Đăng qua màn hình computer đã nhận ra được tầm vóc của nhà khoa học thật thụ, nếu có cơ hội đứng trước các tác phẩm của ông có thể cảm xúc của người xem được nhân lên bội phần. Sức mạnh của loại hình nghệ thuật siêu ngôn ngữ này ở trực quan và tùy vào trạng thái tinh thần của người xem. Điều mà thiên nhiên đã ban phát một cách công bằng cho loài người, không phân biệt giai tầng. Cũng như vậy khi nghe một tiếng chuông ngân, tiếng chim hót, con suối róc rách hay lời thì thầm của dòng sông, hoặc nhìn ban mai rung rinh trên phiến lá màu lục non, ngắm nỗi buồn ánh trăng loang trên mặt sông và thả cái nhìn sâu hút vào khoảng chiều tà bát ngát thì mỗi người sẽ cảm nhận theo một thể cách của mình, điều mà mọi người đều biết là tùy theo căn nghiệp; căn nghiệp ở đây chính là bề dày của văn hóa, chiều sâu của tâm linh và sự trong veo của những tâm hồn thơ mộng.

Xem tranh của Nguyễn Đình Đăng, như nghe ông kể về từng giấc mơ của mình, nơi cảnh giới mà Freud dành suốt một đời để ghi danh tính lên đó, bao gồm cả thiện ác. Trong cơn ác mộng của thế giới, Nguyễn Đình Đăng muốn xua tan nó bằng nghệ thuật tạo hình của mình với niềm mong mỏi là khơi dậy thiện căn trong mỗi cá thế qua các thần thoại. Điều đó phải chăng là thông điệp của hội họa Nguyễn Đình Đăng: Thần thoại hóa hiện thực.

Huế, 10/2015 
L.H.L 
(SDB19/12-15)



Tuyết phủ trắng miền Tây xứ Nghệ


Dân trí Nhiệt độ xuống quá thấp đã khiến cho tuyết phủ trắng trời vùng miền Tây xứ Nghệ. Một số phương tiện như xe máy, ô tô đỗ tại khu vực cửa khẩu phụ Buộc Mú (hay còn gọi là cửa khẩu lối mở), huyện Kỳ Sơn không thể nổ máy vì nhiệt độ xuống quá thấp.

Theo ghi nhận của PV Dân trí, tại khu vực biên giới bản Buộc Mú, xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) giáp ranh với nước bạn Lào đã xuất hiện băng tuyết trên diện rộng.

Hầu hết tại khu vực Buộc Mú tuyết đã phủ trắng trên các đồi cây lớn, nhỏ. Một số phương tiện như xe máy, ô tô đỗ tại khu vực cửa khẩu phụ (hay còn gọi là cửa khẩu lối mở) không thể nổ máy vì nhiệt độ xuống quá thấp.

Theo người dân và cán bộ tại đây, nhiệt độ đo được vào chiều tối 24/1/2016 đã xuống -8 độ C. Do nhiệt độ xuống quá thấp, nên cuộc sống người dân nơi đây đang bị đảo lộn.

Trong khi đó tại địa bàn xã biên giới Tri Lễ, huyện Quế Phong cũng xuất hiện băng giá. Theo ghi nhận, hầu hết các bản làng của xã Tri Lễ nước đã đóng băng. 

Dưới đây là một số hình ảnh do PV ghi lại:


Đường lên cửa khẩu phụ Buộc Mú phủ trắng tuyết.








Các đồi cây phủ trắng tuyết.








Một chiếc xe con bị tuyết phủ trắng tại Buộc Mú, xã Na Ngoi.



Tuyết phủ trắng trời Buộc Mú, xã Na Ngoi, huyện biên giới Kỳ Sơn.


Một căn nhà gỗ sa mu nước đọng tuyết phủ trắng tại xã Tri Lễ.


Tuyết phủ rải rác trên hiên nhà.


Nước để trong chậu thau cũng đóng băng.




Nước đọng trên chiếc chổi lúa cũng hóa băng tuyết.


Nước đóng băng trên lá môn (Ảnh: Lô Liên).


Băng tuyết bất ngờ xuất hiện ở Hà Nội


Không chỉ Sa Pa mà ngay cả Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Nội), Mộc Châu (Sơn La), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) cũng có băng tuyết trắng xóa.

Hôm nay 24/1 được dư báo là ngày rét nhất ở miền Bắc do ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực mạnh. Các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang... nhiệt độ đều rơi xuống mức thấp kỷ lục. 

Lúc 6h sáng nay 24/1, các trạm quan trắc khí tượng miền núi Bắc Bộ đo được nhiệt độ thấp nhất ở các địa phương như sau: Pha Đin nhiệt độ là 1,8 độ C; Điện Biên 8,4 độ C; Sơn La 3,2 độ C; Mộc Châu 0,6 độ C; Hòa Bình 8,4 độ C; Lào Cai 8,4 độ C; Sa Pa -2 độ C; Yên Bái 6,6 độ C; Đồng Văn -0,2 độ C; Hà Giang 8,3 độ C; Tuyên Quang 6,7 độ C; Việt Trì 6,4 độ C; Tam Đảo (Phú Thọ) -0,4 độ C; Lạng Sơn 6,6 độ C; Mẫu Sơn -4 độ C; Hà Nội 6 độ C...

Từ đêm 23 và rạng sáng ngày 24/1, tuyết bắt đầu rơi ở một số điểm thuộc Sa Pa (Lào Cai). Nhiều du khách thức trắng đêm tới sáng để ngắm tuyết. Hôm qua, băng giá đã phủ trắng đỉnh Mẫu Sơn (Lạng Sơn).

Sáng nay, băng tuyết đã lan rộng ra nhiều nơi khác. Những bức ảnh băng tuyết phủ trắng xoá từ Mai Châu (Hoà Bình) đến Mộc Châu (Sơn La), Yên Tử (Quảng Ninh) và đỉnh Mẫu Sơn được cộng đồng mạng thích thú chia sẻ trên mạng xã hội.

Đặc biệt, Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Nội) sáng sớm nay cũng xuất hiện băng tuyết trắng xóa. Trao đổi với phóng viên, anh Triệu Thanh Quang, cán bộ kiểm lâm tại Vườn Quốc gia Ba Vì cho biết tuyết bắt đầu rơi từ đêm qua, đến sáng nay tuyết dày 2-3cm.










Nhiệt độ đo tại Vườn quốc gia Ba Vì sáng nay là -1 độ C, tuyết phủ trắng xóa (Ảnh: FB Thinh Khuất)


Băng tuyết trắng xóa cả đường đi trong Vườn Quốc gia Ba Vì (Ảnh: FB Thinh Khuất)


Băng tuyết đọng trên lá cây ở Ba Vì (Ảnh: FB Thinh Khuất)


Tại Tam Đảo (Vĩnh Phúc) cũng xuất hiện băng tuyết. Nhiệt độ đo được lúc 6h sáng nay là -0,4 độ C (Ảnh: Minh Toàn)


Du khách thích thú nặn tuyết ở Tam Đảo (Ảnh: Minh Toàn)


(Ảnh: Minh Toàn)





Băng tuyết đọng trên cành cây ở Tam Đảo. Ảnh: Bá Thắng


Băng giá kết tụ ở nhiều nơi ở Mộc Châu (Ảnh: Thanh Sơn)


Mặt hồ đóng băng vì quá lạnh. Ảnh Thanh Sơn


Từng cành cây, ngọn cỏ bị bao phủ bởi băng giá ở Mộc Châu (Ảnh: Thanh Sơn)