Thursday, 31 December 2015

Tới miền đất cô liêu nhất thế giới

Ian Lloyd Neubauer

18 tháng 12 2015Chia sẻ
Image copyrightDan BrounImage captionTừ rặng Wilmot ngắm xuống hồ Pedder (Hình Dan Broun)

Có hai nơi duy nhất trên thế giới giữ kỷ lục đạt bảy trong số 10 tiêu chí cần thiết để lọt vào danh sách di sản thế giới của Unesco.

Thứ nhất là Thái Sơn, một trong năm ngọn núi khổng lồ ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Thứ hai là khu Di sản Thiên nhiên Hoang dã Toàn cầu ở Tasmania, một chuỗi sáu công viên quốc gia bao phủ một phần năm diện tích đảo của bang nằm ở cực nam nước Úc.

Cơ quan Quản lý Công viên và Đời sống Hoang dã Tasmania nói nơi này là một trong những nơi hoang dã thật sự còn sót lại trên thế giới.

Và khu vực hoang dã nhất, rộng nhất, ít người tới nhất là Công viên Quốc gia Southwest, rộng 6.000 cây số vuông, gồm các dãy núi mang sắc xanh – vàng, các hồ băng, những con sông hung dữ, những khu rừng nhiệt đới và những vùng đồng hoang nằm ở góc tây nam của hòn đảo được mệnh danh là đảo cây táo này.
Nơi không bóng người

Các cơn gió lốc và những trận mưa tầm tã quần đảo nơi này trong gần chín tháng mỗi năm. Khi những vạt nắng cuối cùng cũng xuyên qua được đám mây cuộn dày vào tháng Mười Hai thì cũng là lúc công viên quốc gia đón chào hai nhóm khách đặc biệt.

Nhóm đầu tiên với khoảng 1.000 người mỗi năm, gồm những tay đi bộ đường trường riêng rẽ; họ bay đến từ khu mỏ thiếc cũ ở Melaleuca nằm ở vùng duyên hải miền nam Tasmania, nơi bắt đầu của tuyến đường dọc bờ biển, South Coast Track.

Với khung cảnh núi non làm sững người, những điểm vượt dòng sông nước siết, dốc đứng cứng cơ chân và thời tiết khắc nghiệt, hành trình vất vả kéo dài 84 cây số tới ngôi làng Cockle Creek ở phía đông được coi là một trong những tuyến đi bộ đường trường hoang dã, thách thức nhất thế giới.Image copyrightDan BrounImage captionCắm trại trên đỉnh Eve Peak thuộc rặng Anne (Hình: Dan Broun)

Những người đi bộ phải đủ sức để vác theo balo cỡ lớn với đủ quần áo và đồ ăn cho một tuần, cộng với bộ bếp du lịch để nấu ăn, lều, túi ngủ, túi đồ y tế và bộ phát tín hiệu vô tuyến gọi cứu hộ.

Nhóm thứ hai gồm khoảng 100 người tham gia một trong tám chuyến chèo thuyền kayak hàng năm, là hoạt động có tên Roaring 40’s, bắt đầu từ đầu tháng Mười Hai đến giữa tháng Ba.

Là một trong hai công ty du lịch sinh thái duy nhất được phép hoạt động trong công viên này, Roaring 40’s tổ chức các chuyến chèo thuyền mạo hiểm kéo dài từ ba đến bảy ngày, đi qua các vùng biển thuộc Khu bảo tồn Hàng hải Cảng Davey, là nơi hẻo lánh nhất, ít người qua lại nhất của Công viên Quốc gia Southwest.

Quyền độc quyền này rất có thể sẽ sớm mất đi, bởi Cơ quan Quản lý Các Công viên Quốc gia và Đời sống Hoa dã Tasmania đang cân nhắc tới việc biến toàn bộ khu vực Di sản Hoang dã Tasmania, trong đó bao gồm cả Công viên Quốc gia Southwest, thành thủ đô du lịch sinh thái mới trên thế giới.

Theo các số liệu mới nhất từ tờ Sydney Morning Herald, trong số 37 loại hình du lịch tiềm năng được kiến nghị, các quan chức chính phủ đang xem xét phát triển loại hình mô hình đi bộ đường dài có dịch vụ hướng dẫn cao cấp trên tuyến đường dọc biển South Coast Track.

Việc này kéo theo nhu cầu phải xây cất năm địa điểm có lều trại cố định để làm nơi dừng chân, và các bãi đáp dành cho máy bay trực thăng, từ đó thu hút thêm hàng ngàn du khách tới mỗi năm.Image copyrightDan BrounImage captionHoàng hôn tại vũng Bramble Cove (Hình: Dan Broun)

"Việc nâng cấp đường băng thô sơ ở Melaleuca thành một sân bay nhỏ đang được bàn đến,” người phụ trách nhóm thám hiểm của Roaring 40’s, Reg Grundy nói.

"Nếu việc đó được tiến hành, máy bay sẽ có thể cất cánh và hạ cánh 12 tháng một năm và việc xây dựng một loạt các nhà nghỉ sinh thái ở đây sẽ khả thi. Dù chuyện đó có xảy ra hay không, thì tôi nghĩ rằng nơi này chắc chắn sẽ thay đổi."
Ở rìa thế giới

Tôi tham gia chuyến thám hiểm ba ngày của Roaring 40’s, với hành trình 112km qua Khu bảo tồn Hàng hải Port Davey để ngắm nhìn công viên trước khi có những thay đổi diễn ra.

"Máy bay hạ cánh thế nào?" Grundy hỏi. Ý ông nói đến chuyến bay ngồi bó gối chật chội của chúng tôi từ thủ phủ Hobart, bay men theo những ngọn núi lởm chởm từ biển nhô lên ở dọc ven biển phía nam Tasmania trước khi hạ cánh xuống Melaleuca.

Là một người tốt bụng với giọng nói đặc Úc và phong cách rất giống với Bear Grylls, tay phiêu lưu chuyên thử nghiệm các kỹ năng sinh tồn nơi hoang dã khắc nghiệt đồng thời là một người dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng của Anh, Grundy coi mọi thứ đều đơn giản, trừ vấn đề đảm bảo an toàn.

"Tôi sẽ không tô vẽ văn vẻ gì hết," ông nói. "Đây là một cuộc thám hiểm ở rìa thế giới. Chẳng có gì ở đây hết. Nếu thời tiết biến động, chúng ta cần phải có đủ tự tin để sống sót ở vùng hoang dã trong thời gian dài."Image copyrightDan BrounImage captionHồ Oberon ở dãy núi Western Arthur (Hình: Dan Broun)

Từ đường băng, chúng tôi mang theo túi đồ, băng qua cánh đồng đầy hoa dại tới bờ lạch Melaleuca, nơi có vài chiếc thuyền kayak đôi loại đi trên biển với đồ dùng cần thiết đã chờ sẵn.

Sau khi mặc bộ đồ chịu gió, nước, chúng tôi lên thuyền và bắt đầu chèo vào vùng hoang dã.
Hệ sinh thái đặc biệt

Chúng tôi mất cả buổi sáng chèo lên hướng bắc mới tới được khu vực biển Melaleuca, một vùng nước hẹp với những hàng cây đước, rồi ăn trưa ở Forrest Lagoon, một khu trại dọc đường có chừng chục căn nhà gỗ cách Melaleuca 6km xuôi theo dòng sông.

Sau khi lót bụng với vài lát bánh mì, chúng tôi chèo tiếp lên phía bắc vào Bathurst Harbour trước rẽ sang hướng tây vào vùng Bathurst Narrow.

Tại đây, lần đầu tiên chúng tôi được nhìn thấy làn nước của khu bảo tồn Port Davey Marine. Nó có màu nước trà, tạo ra từ sự hoà trộn của dòng nước ngọt với lượng nước mặn, bao quanh bởi những bãi thạch anh và đá phủ rêu xanh lục hoặc màu vàng huỳnh quang. Port Davey là một trong những cửa sông có màu kỳ lạ nhất trên Trái Đất.

Bên dưới mặt nước là một thế giới thậm chí còn kỳ lạ hơn nữa - một hệ sinh thái thiếu ánh mặt trời, là nơi của các loại rong biển, san hô mềm, sao biển, cầu gai màu cam, đỉa biển và các động vật biển không xương sống vốn chỉ có ở đây.Image copyrightDan BrounImage captionCắm trại gần vũng Camble Cove (Hình: Dan Broun)

Nguồn sáng yếu ớt và nguồn dinh dưỡng thấp đã ảnh hưởng tới toàn bộ nhịp thở sinh thái; tại Port Davey hầu như không có chim chóc gì, khiến khu bảo tồn tĩnh mịch đến rợn người.

Chúng tôi trải qua đêm cắm trại đầu tiên trên bãi biển Balmoral, một trảng cát thạch anh trắng trông nhỏ bé bên những vách đá cheo leo hùng vĩ của núi Rugby.
Miền đất hoàn toàn tách biệt với thế giới

Giữa hè mà vẫn cảm thấy lạnh, chúng tôi cuộn mình trong túi ngủ, nằm trong những căn lều cá nhân hầm hập hơi nước.

Thời gian không còn ý nghĩa gì nữa khi chúng tôi tiếp tục chèo ngược sông tới Bathurst Channel, là vùng nước dài 12km nối với Nam Đại Dương.

Chúng tôi chèo qua những hòn đảo nhỏ có những đám cần tây ở trên, nơi chưa từng biết đến lửa trong hàng thế kỷ qua và phủ kín các loài cây cối, hoa cỏ đã tuyệt chủng trên đất liền từ lâu.

Nước nơi này sâu hơn, có chỗ sâu tới 40 mét, đen sẫm như mực và được bao quanh bởi những bức tường đá phủ đầy hải quỳ màu cam, rong biển xanh ngả sắc huỳnh quang và tảo bẹ màu vàng.

Đằng sau đám cỏ rong này, nhìn ra khắp nơi ta thấy những rặng núi xanh xám, những khe đá bị nước xâm thực lõm vào trong với những hàng cây bạch đàn tối sẫm, trông như nếp da nhăn của gã khổng lồ đang ngủ.Image copyrightGettyImage captionMt Rugby soi bóng xuống vịnh Bathurst Harbour mờ sương (Hình: Ted Mead/Getty Images)

Vào ngày thứ hai, khi cắm trại gần một trạm săn cá voi từ xưa tại Bramble Cove, chúng tôi tìm thấy vài vỏ chai thuỷ tinh méo mó được làm thủ công từ thời đầu thế kỷ 19, dùng đựng rượu rum.

Chúng tôi cũng dừng chân tưởng nhớ bên mộ Critchley Parker Junior, một doanh nhân Melbourne bị lạc và chết vì kiệt sức hồi đầu thập niên khi thám hiểm một vùng đất với ý tưởng táo bạo để thiết lập một quê hương cho người Do Thái ở châu Âu.

Chúng tôi cũng đã đến thăm một trong 37 địa điểm hang động thổ dân Úc châu nổi tiếng trong Khu bảo tồn Hàng hải Port Davey, nơi các nhà khảo cổ đã tìm thấy các món đồ bằng đá 30.000 năm tuổi và bằng chứng về hoạt động đánh bắt hải sản.

Sáng hôm sau, chúng tôi dỡ trại một giờ trước khi trời sáng và đi một vòng trên cửa sông Bathurst Channel và Port Davey.
Chèo thuyền trên sóng dữ

Với những cơn sóng dồn dập ập vào từ Nam Đại Dương, đường bờ biển Port Davey là một quần thể gồm những vách đá dựng đứng cạnh biển, những vịnh nhỏ kín gió, bãi biển lộng gió và các hòn đảo tí xíu lỗ chỗ như tổ ong với các vòm đá đủ rộng để ta chèo thuyền qua.Image copyrightGettyImage captionNhững hòn đảo nhỏ ở Port Davey (Hình: Peter Walton Photography/Getty Images)

Nhóm đảo đầu tiên - quần đảo Breaksea – nằm cách cửa Bathurst Channel không tới 1km. Nhưng tới được đó là cả một thử thách. Không như mặt nước phẳng lặng thường gặp ở các cửa sông, những cơn sóng ở Port Davey có thể cao tới 4m, thậm chí tới 12m trong những trận bão cuồng nộ mùa đông.

"Ta sẽ có cảm giác vừa sợ vừa thích khi những con sóng lớn đầu tiên quét qua đáy thuyền kayak," Grundy nói với vẻ giễu cợt.

Sau khi tới được đảo, chúng tôi dành một giờ khám phá hang động trên biển, chèo xuồng qua vòm đá và và những vách đá cao chót vót trong lúc sóng biển không ngừng xô, đập ồn ào vào bờ đầy vách đá và lộng gió.

Grundy ra hiệu rằng chúng tôi không thể ở đây lâu hơn nữa.

Nam Đại Dương là nơi có những con sóng lớn nhất thế giới; thời tiết chỉ cần thay đổi một chút cũng có thể khiến chúng tôi gặp rắc rối.

Chúng tôi nhanh chóng quay thuyền và trở lại cửa sông, đi vào vùng nước màu trà yên bình lặng lẽ Melaleuca.

Ở nơi tách biệt khỏi phần còn lại của thế giới này, thiên nhiên thống trị mọi thứ và tôi cảm nhận vô cùng rõ về sự cô đơn.

Sau 15 năm chuyên viết về du lịch, tôi may mắn được tới thăm hầu hết những vùng đất kỳ lạ, bất thường và xa xôi nhất trên thế giới. Nhưng hiếm nơi có thể so sánh được với Công viên Quốc gia Southwest, một nơi đẹp không tưởng, không hằn dấu thời gian và nằm ở bên rìa thế giới.

Bản gốc tiếng Anh bài này đã đăng trên BBC Travel.

Wednesday, 30 December 2015

Hãy giải cứu tiếng Việt khỏi sự đày đọa của VTV

nguồn LTN
Những năm gần đây, nhiều người Việt (trong đó có các nhân vật hoạt động trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ) mắc rất nhiều lỗi chính tả, cú pháp (điểm ngắt, điểm nhấn khi nói) trong ngôn ngữ nói, dùng nhiều hư từ, tiếng đệm vô nghĩa, từ sai nghĩa, không chuẩn xác... làm mất đi tính trong sáng và chuẩn mực của tiếng Việt. Tệ hại hơn là điều này lại xảy ra trên các phương tiện truyền thông đại chúng... Trên Truyền hình Việt Nam tiết mục bất cứ ai cũng phải xem hằng ngày là "Dự báo thời tiết". Vì nó liên quan đến công việc, kế hoạch cá nhân, cơ quan, đơn vị, lo lắng lũ lụt, mùa màng… Nếu bạn chú ý (có điều kiện ghi lại) sẽ thấy, chỉ 1,2 phút mà nhan nhản những sai sót, chuẩn mực ngôn từ.

HÃY CỨU NGUY TIẾNG VIỆT

 Đinh Đức Cần 
Một vài cái sai thường thấy sau đây: “Khối không khí lạnh đang mấp mé biên giới nước ta”. Đúng ra chỉ có chất lỏng mới dùng từ “mấp mé”: Nước dâng mấp mé mặt đê; sữa mấp mé miệng cốc. “Nhiệt độ quanh quẩn ở 18 độ C đến 21 độ C” - Nhiệt độ được nhân cách hóa như con trâu quanh quẩn ở bãi cỏ, như con chó quanh quẩn trong sân… thật kỳ cục phải không? “Những thiệt hại do lũ lụt mang lại” - Trong tiếng Việt động từ “mang lại” có nghĩa tốt đẹp, điều may mắn, lợi ích như: "Đảng mang lại tự do, hạnh phúc, ấm no cho nhân dân…".
Cái xấu, cái tệ hại, cái không mong muốn phải dùng từ “gây ra” mới đúng: "gây ra chiến tranh, gây ra sự lộn xộn, gây ra cái chết, gây ra thiệt hại…". Lạ lùng hơn: “Cơn mưa đi từ dưới Mũi Cà Mau đi ngược lên các tỉnh Nam bộ”. Té ra cơn mưa không từ trên trời rơi xuống mà lại từ dưới đất chui lên? Tôi hiểu ý người nói muốn nói từ Mũi Cà Mau lan về phía đồng bằng Nam bộ nhưng không biết diễn đạt, hoặc muốn nhân cách hóa cơn mưa nên dẫn đến sai sót rất căn bản về ý nghĩa của câu nói.
“Sau đây là dự báo thời tiết trên biển”. Thế còn thời tiết dưới biển thế nào, có trên phải có dưới chứ? Tại sao không nói “Thời tiết biển” là chuẩn, là đủ còn thêm từ trên làm gì, vừa thừa không cần thiết? Khủng khiếp hơn là: “Tầm nhìn xa giảm xuống thấp là dưới 10km”. Chao ôi! Đang dùng phép đo chiều dài, đột ngột chuyển sang phép đo chiều cao thấp, nông sâu – thật tài tình làm sao? Đến thánh thần cũng không hiểu nổi.
Dự báo thời tiết nhà nông thì: “Không khí ẩm thấp ít nắng sẽ làm cho các đối tượng sâu bọ phát triển”. Từ thuở bé đến giờ tôi mới nghe gọi sâu bọ là đối tượng. Tại sao không nói cho chuẩn là các loài sâu bọ? Giờ từ đối tượng quá lạm phát và sai be bét. Đối tượng thương binh liệt sỹ, đối tượng chính sách, đối tượng đói nghèo… Tất cả gom vào một rọ cứ như là đối tượng hình sự, tội phạm, đối tượng phản cách mạng… Thật là phản cảm, thiếu trân trọng.
Chỉ đôi phút mà nhặt ra hàng lố sai sót. Ngoài ra các biên tập viên dự báo thời tiết còn uốn éo, dùng ngôn ngữ hình thể để minh họa cho nội dung rất phản cảm. Trong khi đó, chương trình dự báo thời tiết của Đài Truyền hình Hà Nội, đưa bản đồ vùng lên nói ngắn gọn, chính xác đỡ mất thời gian. Người nghe chỉ cần thông tin mưa nắng bão bùng ra sao. Đâu cần miêu tả ẩm ương dài dòng văn tự. Mỗi phút quảng cáo phải tốn hàng chục triệu đồng, kéo dài tiết mục dự báo thời tiết là lãng phí tiền bạc của Nhà nước. Lại còn chua thêm vào dặn dò mai nắng nóng nhớ mang theo áo chống nắng, thời tiết thuận lợi cho việc Picnic, vui chơi giải trí ngoài trời, đi du lịch…
Nếu không dặn hẳn người ta không biết lo cho thân mình chắc? Bao nhiêu người cần lao đang chật vật làm việc để kiếm miếng cơm manh áo, có khi cả đời cũng không biết tới du lịch, giải trí, du hí? Cứ làm như ai cũng giàu có cả?
Ngỡ chỉ chương trình dự báo thời tiết, ai dè các chương trình khác, khán giả cũng gặp không ít... sạn. Suốt 24 giờ trên tất cả các kênh Đài truyền hình trung ương, các chương trình truyền hình của các bộ, ngành, tổ chức chính trị xã hội đều mắc “hội chứng” à, ờ. Dạ thưa, vâng, à vâng, phải không ạ… Những từ đệm vô nghĩa, vô duyên này thường bắt đầu ngay câu đầu tiên: À thưa quý khán giả, À vâng, thưa ông đã nhận lời trả lời phỏng vấn chương trình của chúng tôi, Ờ, bây giờ chúng ta cùng nhau ờ… xem diễn biến trận đấu bóng đá… Nào có ai sai bảo gì đâu mà dạ với vâng? Các câu nói cứ liên tục đưa vào vô tư những hư từ vô nghĩa, từ đệm vô duyên làm câu nói rườm rà, nghe tức anh ách. Các từ thì, là, mà, nhiều nhan nhản trong mọi câu nói. Đặc biệt là từ “cái” có ở khắp nơi, trong mọi văn cảnh, trường hợp, mọi lúc. Các hư từ thì, là, mà, cái này ở văn viết đã khó chịu lắm rồi, vào văn nói lại càng phản cảm hơn.

Khủng khiếp hơn, đàn ông rõ rành trong giây phút thành giới mặc váy trong một chương trình phỏng vấn lãnh đạo ngành giáo dục: “Cái thầy giáo…”. Chương trình cà phê sáng phát 22-10 trên VTV3 người đối thoại là biên tập viên truyền hình nói: “Cái chàng trai...” với đầu bếp giỏi ở Mỹ về Việt Nam lập nghiệp. Cái là giới nữ đi liền với chàng trai là giới nam? Có tài thánh cũng không hiểu nổi biên tập viên muốn diễn đạt cái gì. Chương trình Kinh tế 22h00 tối 16-10- 2015, người dẫn chương trình trong phỏng vấn đối tác về PPT thật tự nhiên đến mức vô lý: “Vậy thưa ông chúng ta có những thách thức gì khi tham gia vào PPT ý ạ”. Thật kỳ cục cái cụm từ "ý ạ" đặt trong văn cảnh này.
Những người thuộc thế hệ truyền hình đầu tiên được đào tạo bài bản, có ý thức rèn giũa khi nói trên truyền hình nên rất hiếm mắc những sai sót ngớ ngẩn như trên. Người ta còn có ấn tượng sâu sắc với thế hệ phát thanh viên Kim Tiến, Mạnh Tường, Minh Chí, Hồng Trang… nói vừa tròn vành rõ chữ, vừa chuẩn mực. Sau thế hệ đó bắt đầu sự dễ dãi, đưa bừa ngôn ngữ đời sống vào truyền hình. “Tật” vâng, à vâng… bạn tôi bảo đó là “hội chứng LVS” - người được nêu danh là “gạo cội”, nổi tiếng trong dẫn các chương trình truyền hình. Lớp sau tưởng thế là hay nên bắt chước làm theo.
Ông còn kể rằng đứa cháu ngoại ông một lần đến thăm ông thấy có chiếc bánh trên bàn nó nói: “À vâng thưa ông, cháu có được ăn chiếc bánh này không?”. Thay vì nói đơn giản và chính xác là: “Ông ơi! Cháu có được phép ăn chiếc bánh này không?”. Khi tôi uốn nắn lại cho nó, nó vênh mặt lên cãi rằng nói như nó mới đúng, và giải thích cho ông rằng trên truyền hình các cô, các chú ấy nói như vậy? Hóa ra ai cũng cho rằng đã nói trên truyền hình là nói cho cả nước nghe, ắt phải chuẩn mực rồi, lẽ nào sai? Mà có thấy ai phản ứng gì đâu?
Không biết những thế hệ sau sẽ sử dụng tiếng Việt ra sao nếu cứ tồn tại cái sai, thiếu sự chuẩn mực ra rả hàng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng với nhịp độ ngày càng tăng đang gặm nhấm, sói mòn và méo mó ngôn ngữ Việt vốn phong phú và đa sắc, đủ biểu hiện mọi sắc thái tình cảm, hành động của con người.
Rõ ràng chuyện thêm thắt các từ đệm “vâng, dạ, hả, ồ, ờ… làm cho câu nói nghe hết sức khó chịu. Tiếng Việt đang bị xâm hại, một cách vô hình mà ít ai chú ý đến. Một vấn đề nữa là dùng từ Hán Việt. Người nói không hiểu cặn kẽ nghĩa của từ nên sử dụng không hợp lý. Ví dụ: Sự hiện diện (nghĩa là có mặt) của các đại biểu hôm nay… nghe còn có thể chấp nhận. Nhưng sự hiện diện của tàu sân bay, của khối không khí lạnh, cơn mưa… thì nghe thật chối tai.
Tại sao không nói: Sự xuất hiện thay vì hiện diện? Nói chung là không nên dùng từ Hán Việt khi từ thuần Việt đủ khả năng biểu hiện. Đặc biệt là từ “cái” liên tục xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, mọi chương trình. Tất cả các từ loại: Động từ, tính từ, trạng từ… đều được “danh từ hóa” một cách vô lý không thể chấp nhận được. “Cái màu xanh, cái tình trạng khô nóng, cái tác động, cái ảnh hưởng”… Thậm chí bản thân các danh từ đã đủ nghĩa, vẫn thêm từ “cái” vào: “Cái chính sách”, “cái chủ trương”, “cái chế độ”… khủng khiếp hơn là “cái dân tộc” từ miệng một chính khách cỡ “bự”. Các hư từ vô nghĩa như: thì, là, mà… hoặc những liên từ, giới từ, thán từ… đặt không đúng chỗ không thiếu trong các câu nói. Lại còn cái tật liến láu nói hết phần người được phỏng vấn, người đối thoại, buộc người đối thoại phải thừa nhận ý của mình bằng cách liên tục hỏi “Có phải không ạ”. Người dẫn chương trình có ý khoe hiểu biết (chưa đi đến đâu) của mình, thật khập khiễng, vô duyên.
Có lẽ việc thống kê nên để cho bạn xem truyền hình. Mình tôi không đủ thời gian theo dõi 24 giờ hằng ngày. Mong các bạn cùng chia sẻ, lên tiếng bằng mọi cách để góp phần làm trong sáng tiếng Việt trong ngôn ngữ nói.

Chân Phương

Robert Burns & Ạul láng syne
Trong mấy hôm soạn thảo bài này, tôi nhận được hung tin: Họa sĩ-Nhạc sĩ NGUYÊN LONG vừa là bạn văn nghệ thân tình vừa là đồng nghiệp nhiều năm của tôi tại ngôi trường MATHER ở Dorchester-Boston đã đột ngột lìa trần. Những dòng chữ trong bài viết này phần nào chứa chất nỗi buồn mất bạn cùng niềm thương tiếc một tài năng đã vội ra đi! C.P.

THE NATIONAL PORTRAIT GALLERY ở thủ đô EDINBURG, SCOTLAND.

Hè qua vào giữa tháng Tám tôi ghé Edinburg lần đầu, dù bước giang hồ từng đưa tôi đôi lần đến London hay Dublin trước đó. Thời sự chính trị là lý do khiến tôi muốn thăm viếng và tìm hiểu về đất nước Tô cách lan (Scotland) mấy năm nay đang vận động tự trị để lấy lại độc lập. Nhưng động cơ sâu xa hơn là mối quan tâm lâu nay của tôi về lịch sử văn hóa - tư tưởng phong phú của dân tộc scottish dù đã bị đế chế Anh thống trị từ thế kỷ 15-16.
Đất nước này không chỉ quen thuộc với thế giới nhờ các chai scotch whisky hoặc đám đàn ông mặc váy - Scotland (Écosse) từng là một trong vài cái nôi hàng đầu của tư tưởng Âu châu bên cạnh Paris, London hay Firenze, Vienna ... Kẻ du khách với óc hiếu kỳ văn hóa có thể ghé bảo tàng National Portrait Gallery để ngắm chân dung của hàng loạt danh nhân Tô cách lan. Nhưng bàn về triết gia David Hume, nhà khoa học Charles Darwin hay cha đẻ môn kinh tế là Adam Smith không phải là mục đích của bài viết này ( tôi hy vọng có dịp khác sẽ biên khảo về các gương mặt kiệt xuất của Edinburg). Ở đây tôi muốn tập trung vào Robert Burns cùng bài thơ AULD LANG SYNE đã trở thành ca khúc có lẽ quen thuộc nhất cho cả loài người trong thời đại truyền thông toàn cầu hóa - các hình ảnh giao thừa tại Times Square New York càng ngày càng biến nó thành Quốc Tế Ca của những Buồn Vui Kiếp Người vào phút đón mừng Năm Mới. 


Tượng ROBERT BURNS-National Portrait Gallery EDINBURG.

Robert Burns (1759-1796) được dân Tô Cách Lan phong làm National Bard (Thi Hào dân tộc) - một danh dự nâng ông lên địa vị tương tự Dante, Shakespeare, Goethe, Victor Hugo, Pouchkin...đối với đất nước họ. Xuất thân thấp hèn, đứa con nông dân nghèo nhờ thông minh và tài năng thiên phú đã bắt nên nhịp cầu giữa văn hóa dân gian và giới thượng lưu quí tộc.Ông bắt đầu làm thơ lúc 15 tuổi, một bài thơ chất phác khai mạc chuỗi tình ca Burns sẽ viết tặng cho nhiều người đàn bà con gái trong cuộc đời thi nhân lãng mạn. Nhưng phải đợi mười năm sau nhà thơ mới tập hợp được thi phẩm đầu tay POEMS, chiefly in the Scottish Dialect (Thơ, chủ yếu viết bằng phương ngữ Tô cách lan), phục hồi tài sản thơ ca dân gian trong cảm hứng cá nhân.Tập thơ được đón nhận nồng nhiệt này đã tái bản ngay năm sau 1787 tại Edinburg; và thủ đô văn hóa của dân tộc yêu chuộng văn chương này đã đón tiếp Robert Burns như một thượng khách. Khi gặp Burns ở Edinburg, đại văn hào Walter Scott lúc ấy mới 16 tuổi đã nhận xét như sau:Chỉ con mắt thôi, tôi nghĩ thế, đã bộc lộ nhân cách và tính nết nhà thơ. Đó là một con mắt to với sắc âm u, nhưng rực sáng khi ông ăn nói với cảm xúc và nhiệt huyết. Tôi chưa từng thấy trên đầu ai có một con mắt như thế dù tôi đã gặp những nhân vật tôn quí nhất trong thời đại của tôi.

ROBERT BURNS cạnh WALTER SCOTT trong Nhà Bảo Tàng Văn Học Edinburg.

Nhà thơ sau này được văn học sử tôn vinh thành một tiếng nói trữ tình khai sinh cho chủ nghĩa lãng mạn từng tâm sự như sau trong lời mở đầu tác phẩm FIRST COMMON PLACEBOOKS: For my own part I never had the least thought or inclination of turning Poet till I get heartily in Love, and then Rhyme and Song were, in a manner, the spontaneous language of my Heart. (Riêng cá nhân, tôi chưa từng có mảy may ý nghĩ hay chí hướng trở thành Thi nhân cho đến khi tôi biết yêu say đắm. Khi ấy, có thể cho rằng Vần Điệu đã biến thành ngôn ngữ tự phát của Quả Tim tôi.) Văn hóa bình dân với tài năng thiên phú, cộng thêm xúc động tình yêu đã biến Burns thành nhà thơ - khác xa với Petrarch, Dante hay Shakespeare là các thi hào-học giả đã tôi luyện thi pháp của họ như một kỹ xão - chẳng hạn cách dùng ẩn dụ như một cơ cấu qui mô thêu dệt các ý thơ trong một thi phẩm nhất quán.

Ví dụ bài tình ca lừng danh RED, RED ROSES của Burns - chính Bob Dylan sau này thú nhận đó là bài thơ ảnh hưởng mạnh nhất đến sự nghiệp sáng tác ca khúc của ông - bắt đầu với cách so sánh bình dị hoa hồng=người yêu, giai điệu=tình nhân...

O, my love's like a red,red rose 
That's newly sprung in June:
O, my love's like the melody
That's sweetly played in tune... 

Người yêu tôi như nụ hồng thắm
Trên cành tháng Sáu đơm hoa:
Tình nhân tôi như một điệu ca
Cung đàn hòa nhịp ngân nga... 
(C.P. tạm dịch) 

Thi pháp hồn nhiên không nặng tính bác học ấy biết vay mượn văn hóa dân gian để tạo chiều sâu tư tưởng hay độ dày trải nghiệm nhân sinh. Cũng trong bài thơ vừa nêu, Burns đã mượn thành ngữ ca dao till the seas gone dry = núi mòn biển cạn để cất lời thề thốt với người yêu; và người Tô cách lan hay Anh-Mỹ khi đọc hoặc nghe hát câu này sẽ khó tránh khỏi xúc động sâu khi luồng điện của ngôn thoại truyền thống chạy xuyên qua tâm hồn mình: 

And I will love thee still my dear
Till all the seas gone dry...

Người thương hỡi, tôi còn yêu em mãi 
Cho đến ngày biển cạn người ơi! (C.P.)

Thi pháp vừa phác họa sẽ được Burns vận dụng trong hầu hết sáng tác thơ của ông, đặc biệt trong bài AULD LANG SYNE sau đây; 

Ca từ hồn hậu như cách nói dân gian đi thẳng vào lòng thính giả, mấy chữ vay mượn thành ngữ FOR AULD LANG SYNE =FOR OLD TIME'S SAKE (để tưởng nhớ ngày xưa) lặp đi lặp lại như lời kinh cầu cho kỷ niệm, cho quá khứ, cho những tình cảm nhạt phai vì thời gian ...
Mỗi năm một lần,vào phút giao thừa khi tâm hồn lắng đọng cho quá khứ hiện lên trước khi Năm Mới lại kéo chúng ta vùn vụt phóng nhanh trên con tàu năm tháng về tuổi già và cái chết;

Should old acquaintances be forgot And never brought to mind

For Auld Lang Syne , my dear 
We'll take a cup of kindness yet

For Auld Lang Syne... 

Nếu đã quên tình cũ bạn xưa
Dù tim óc hết còn hồi tưởng 

Bạn thân ơi, ly Ân Tình xin vẫn cầm lên
Để nhớ lại Ngày Xưa... 

Để nhớ lại Ngày Xưa... (C.P. dịch) 

Đêm giao thừa 2010-2011 tại nhà người bạn giáo sư-thi sĩ Trần Thành, tôi chợt xúc động nhớ lại trong đầu bài thơ của Robert Burns cùng những hoài niệm vấn vương... Bèn tìm giấy bút và phác thảo nhanh lời Việt cho Auld Lang Syne . ( Khi hát bài này và làm montage để đưa lên YouTube, ông bạn họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi có góp ý để hoàn thiện ca từ).
Cùng nhau nâng ly hát lên bài ca giã từ ngày tàn năm hết. 
Nhớ nhau xin ghi thời gian; buồn vui sẽ là một kỷ niệm chung. 
Phút giây chia tay từ đây mà lòng khắc ghi tình nồng năm tháng. 
Vẫy tay mang theo lời ca; hẹn nhau có ngày bồi hồi đoàn viên.

Như thế, bên cạnh Bài Ca Giã Từ của Hướng Đạo VN phỏng theo ý bản dịch Pháp - CE N'EST QU'UN AU REVOIR, nay chúng ta có thêm một phiên bản Việt ngữ để cùng nhau hát vào phút đưa tiễn Năm Tàn và đón chào Năm Mới. Hi vọng trong tương lai sẽ xuất hiện thêm các bản dịch và ca từ mới cho AULD LANG SYNE từ các nhà thơ Việt khác. 


Chân dung ROBERT BURNS trong nhà Bảo Tàng Văn Học.

Thi hào dân tộc Scotland này có cuộc đời tình ái phong phú không thua sức sáng tác của ông bao nhiêu. Dù chỉ lấy vợ một lần - Jean Armour là bà vợ chính thức sinh cho ông chín đứa con - Burns có khá nhiều phiêu lưu ái tình cũng như vài mống con rơi, bắt đầu với Elizabeth Paton, Mary Campbell, Jenny Clow, Margaret Cameron...Ông còn yêu say đắm Agnes Mc Lehose dù bà này có chồng, và viết tặng nàng "Clarinda" này vài bài thơ đã đi vào văn học sử dù ông chẳng chinh phục được người đẹp. Có lẽ vì trái tim thi sĩ đã vương vấn không ít hình bóng giai nhân nên đôi lúc khó cầm lòng ông phải "nâng cốc ân tình" để nhớ lại ngày xưa. 


BÀN VIẾT CỦA ROBERT BURNS.


Nếu sành âm nhạc, người nghe bài hát trên đây sẽ nhận ra điệu ngũ âm (pentatonique) quen thuộc của nhạc dân ca, không chỉ ở phương Tây. Có thể Ngũ âm là một lý do giúp bài AULD LANG SYNE lan truyền khắp đại chúng nhờ cung bậc mộc mạc với âm hưởng chân chất khiến thính giả có thể hát theo thoải mái. Vào dịp tưởng niệm Thi hào Robert Burns ở nhiều nước có truyền thống văn học Anh ngữ ( Boston , Montréal chẳng hạn đều có tượng đài cho ông), chúng ta sẽ được nghe Auld Lang Syne. Hướng Đạo Quốc Tế cũng đã chọn bài này làm Ca khúc Hướng Đạo; hoặc Quốc thiều Đại Hàn cũng mượn giai điệu bài ca này. Vậy thì ngũ âm hay ngũ cung không chỉ là nhạc thức truyền thống Á đông mà còn là một tài sản chung cho những nhà soạn nhạc và sáng tác ca khúc bất cứ ở đâu.

TẠM KẾT

Dù chưa đủ lá phiếu để giành lại độc lập chính trị trong cuộc trưng cầu dân ý cuối năm qua, Scotland đã xây dựng cho mình một thế đứng văn hóa tách biệt với London từ đầu thế kỷ 20
qua phong trào vận động Scottish Renaissance (Phục Hưng văn hóa Tô cách lan) tôn vinh các gương mặt văn học như Robert Burns, Walter Scott, R.L. Stevenson... Chúng ta cũng cần nhớ rằng tầm vóc văn hóa của đất nước Scotland đã hình thành từ thời Scottish Enlightenment (Khai Sáng Tô cách lan) vào thế kỷ 18; Adam Smith, David Hume trở thành tài sản chung của tư tưởng phương Tây từ đó. Nhưng văn hóa-văn nghệ và chính trị dân tộc với các ý thức hệ cỗ súy cho nó là hai phương trình không giống nhau, dù đôi lúc phải song hành vì sách lược*. Bởi một thi nhân hay văn hào hàng đầu của bất cứ dân tộc nào đồng thời cũng là công dân của nền Cộng Hòa Văn Chương Toàn Cầu (République Mondiale des Lettres); và các tác phẩm nghệ thuật lớn không cần mang quốc tịch. 

Trong vô vàn ví dụ, ca khúc Auld Lang Syne với tác giả của nó là một bằng chứng hiển nhiên cho lời nhận định trên đây. 


CHÂN PHƯƠNG
Hingham Bay, hạ tuần tháng Chạp 2015.

chuyện một ngày


Tôi chắc là không. Vì Đông Dương có 5 xứ là: Bắc Kỳ tức Tông-canh (Tonkin); Trung Kỳ và Nam Kỳ - 3 kỳ hay 3 xứ này là hết đất An Nam. Thêm 2 xứ nữa là Ai Lao (tức Lào) và Cao Miên (tức Campuchia). 
Vì sao không dịch ngắn gọn là "Đông Dương"; hoặc dịch đầy đủ là "Đông Dương thuộc Pháp" nhỉ?



Dương Quốc Định


Phương Đông huyền bí ( beauty of Vietnamese women )
Trong hàng nghìn năm qua, phương Đông luôn là một vùng đất bí ẩn và đầy quyến rũ, mời gọi những bước chân lữ hành lên đường khám phá…
Đó là vùng đất của những minh triết cổ xưa, những kho báu vô giá, và không thể thiếu những mỹ nhân mang vẻ đẹp chim sa cá lặn.
Cảm nhận điều này qua các tác phẩm do nghệ sĩ Dương Quốc Định thực hiện:

Lê Minh Độ



Đêm nhìn cháu ngủ

Con là bài thơ nhỏ của ta
Ta gặp con
Trên đường sao mọc
Những ngôi sao đẹp
Đậu mặt con lấp lánh
Làm rạng rỡ
Khuôn mặt thiên thần bé nhỏ

Ai chuốt thân hình con
Thành mảnh mai
Ai thương con
Thương bài thơ câm lặng
Nét bút vu vơ
Vẽ lại một hình hài....

Về với chúng ta
Đông vui đầm ấm
Một mái nhà
Vang tiếng chim ca
Bỗng chạnh lòng
Thương mẹ con lầm lũi nơi xa...

Con là nhánh cỏ bồng thi
Vẽ vòng nguyệt quế
Treo vào lòng ta
Bật chút lửa hồng
Sưởi ấm mùa đông....

Cộng đồng ASEAN ra đời

 Từ ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN (AEC) chính thức đi vào vận hành. Đây là dấu mốc quan trọng của ASEAN sau 48 năm thành lập và phát triển. Sự kiện này có ý nghĩa lớn đối với cộng đồng khu vực và cũng là thời cơ lớn đối với Việt Nam.
Lãnh đạo các nước ASEAN tại lễ ký Tuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN ở Kuala Lumpur, Malaysia ngày 22/11/2015 (ảnh: VGP)

AEC - Sự kiện quan trọng

Năm 2015, trong khu vực có 3 sự kiện lớn về kinh tế, tài chính như Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Nhưng AEC được coi là sự kiện nổi bật nhất, vì đây là thị trường có quy mô dân số lớn thứ 3 trên thế giới (630 triệu), và đứng thứ 7 thế giới về GDP (3 nghìn tỷ USD).

Sau nhiều năm chuẩn bị, Lãnh đạo 10 nước thành viên ASEAN ngày 22/11 đã ký Tuyên bố Kuala Lumpur về Hình thành Cộng đồng ASEAN (AEC) vào ngày 31/12/2015. AEC được kỳ vọng sẽ thúc đẩy thương mại nội khối với việc hình thành thị trường chung, theo đó hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn, đầu tư, và lao động có kỹ năng sẽ được dịch chuyển tự do trong thị trường nội khối.

Với việc hình thành thị trường chung, AEC cũng hướng tới tạo lập một cơ sở sản xuất thống nhất khu vực để nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường toàn cầu.

Cho đến nay, ASEAN đã loại bỏ gần như toàn bộ các dòng thuế giữa các nước phát triển hơn, thông qua các Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN, Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với các nước đối tác và thành lập Quỹ hạ tầng ASEAN…

Mặt khác, ASEAN ngày càng khẳng định vị thế trung tâm trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương - khu vực được coi là sẽ phát triển năng động nhất thế giới trong thế kỷ XXI.

Đón nhận thời cơ

Đối với Việt Nam việc AEC vận hành hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích về thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư dựa trên lợi thế không gian của một thị trường thống nhất, mở và nâng cao tính cạnh tranh, thực sự là một thời cơ lớn.

Việt Nam có cơ hội dễ dàng tiếp cận thị trường trong và ngoài khu vực, qua đó mở rộng thị trường, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu; ổn định nguồn nhập khẩu và hạ giá đầu vào, qua đó góp phần cải cách quản lý, dịch chuyển cơ cấu kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh...

AEC giúp Việt Nam mở rộng cơ hội đầu tư sang các nước nội khối và kinh doanh từ bên ngoài; tiếp cận các nguồn hỗ trợ về khoa học - công nghệ, học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến; góp phần nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

AEC cũng tạo cơ hội cho kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn trong tương lai gần. Các ngành sản xuất, xuất khẩu chính như: dệt may, giày dép, thủy sản,... được mở rộng sẽ giúp kích thích sự tăng trưởng từ sản xuất trong nước, qua đó hỗ trợ sự gia tăng của tổng cầu.

Với AEC, cơ hội hình thành một cơ cấu kinh tế toàn diện hơn cho Việt Nam, cơ cấu kinh tế được tiếp tục thay đổi theo hướng gia tăng giá trị từ xuất khẩu các mặt hàng có chất lượng cao, nâng cao năng lực và hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam.

AEC còn góp phần tạo chuyển biến trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, luật lệ và thủ tục trong nước, phù hợp hơn với yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn, qua đó góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Vượt qua thách thức

Khi AEC vận hành, Việt Nam cũng sẽ phải vượt qua một số thách thức không nhỏ như:

Một là, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các thành viên là một thách rất lớn cần phải vượt qua bởi các nước thành viên AEC rất đa dạng về mô hình nhà nước, chính trị, văn hoá và có sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển. Tính theo GDP/người, Việt Nam chỉ cao hơn Lào, Campuchia, Myanmar và thấp hơn nhiều so với Singapore.

Hai là, năng lực cạnh tranh của các nước ASEAN cũng không đồng đều. Việt Nam hiện xếp thứ 56, nhưng so với các nước trong khu vực chỉ đứng thứ 6, sau Singapore (2), Malaysia (18), Thái Lan (32), Indonesia (37) và Philippines (47). Khả năng thích ứng với kinh tế thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam chưa tốt, khả năng chủ động khai thác cơ hội còn hạn chế.

Ba là, bảo đảm năng suất, chất lượng hiệu quả. Việt Nam hiện chỉ có 20% lao động có bằng cấp, chứng chỉ qua đào tạo. Trình độ ngoại ngữ của lao động trình độ đại học và lao động có tay nghề của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Năng suất lao động Việt Nam hiện ở mức trung bình nội khối, cao hơn Lào, Campuchia, Myanma; tiệm cận các nước Indonesia và Philippines; thấp hơn so với năng suất lao động của Singapore, Malaysia và Thái Lan.

Bốn là, bảo đảm thông tin và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này sở dĩ do thiếu những quy định về chia sẻ thông tin mật và nội dung các điều khoản kỹ thuật trong quá trình đàm phán. Do đó, các bên liên quan đã ít có cơ hội tham gia ý kiến về các nội dung trong quá trình đàm phán và trước khi thành lập AEC.

Năm là về cơ cấu các ngành sản xuất, nhất là các ngành công nghiệp phụ trợ còn chưa tốt. Với các yêu cầu về xuất xứ được thông qua, các ngành đang là thế mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam như dệt may, giày dép, điện tử… cần được triệt để tận dụng.

Để có thể tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, Việt Nam có thể và cần phải quan tâm đến một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, đổi mới và hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nhằm khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp trong nước, trong đó chú trọng các doanh nghiệp nhỏ, vừa và các doanh nghiệp dễ bị tổn thương trong quá trình hội nhập.

Thứ hai, cải cách môi trường pháp lý, chính sách để bảo đảm hướng tới một “chuẩn mực” thống nhất theo quy định của AEC sẽ là những ràng buộc mang tính pháp lý, bắt buộc phải thực hiện theo đúng lộ trình đã cam kết.

Thứ ba, tổ chức thông tin đến mọi tầng lớp nhân dân, chú trọng vào đội ngũ doanh nghiệp và người sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đặc biệt là về quy tắc nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn hàng hoá và lao động được tự do di chuyển...

Thứ tư, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng để nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, bắt kịp trình độ của các nước phát triển hơn trong khu vực AEC.

Như vậy, thời khắc thực hiện những điều khoản đã cam kết trong Hiệp định AEC đã bắt đầu. Thời cơ lớn, nhưng thách thức cũng không nhỏ, Việt Nam cần đón nhận cả thời cơ và thách thức, với tinh thần chủ động, tích cực, bản lĩnh vững vàng.

Nguyễn Nhâm

Nguyễn Bắc Sơn


Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này
Khi ông còn đương nhiệm, tôi vẫn gặp ông vào sáng thứ ba hàng tuần. Nghe ông nói về vụ này vụ khác, chuyên đề này, định hướng kia cho hoạt động báo chí cả nước trong tuần… Cách ông nói giàu sức thuyết phục vì nó có tình, có lí không thể phản biện được. Cái ông nói là chuyện cụ thể ai cũng biết nhưng đã được nâng lên thành vấn đề hoặc là phổ quát, hoặc rất nhân bản, nhân văn.
Có lần, một tờ báo viết cả tên một phụ nữ bán dâm, khiến con chị phải chuyển trường khác vì bị bạn bè xa lánh, chế giễu. Đôi mắt sáng của ông tóe lửa gay gắt:
- Có thể một số cô gái chọn việc này, nhưng nhiều người bị đẩy vào con đường này. Các anh không để cho người ta sống à? Thử hỏi những ai vào nhà nghỉ, khách sạn với những người như mẹ nó?
Cả phòng họp lớn im lặng. Bất ngờ ông tung ra một câu choáng người.
- Chính các bố chứ ai?
Vừa nói tay ông vừa xòe ra, hua hua phía trước, chỉ tất cả đám đông ngồi trước mặt.
Vậy mà tất cả ngồi im. Không một ai lên tiếng phản đối. Không phải tất cả đều đã từng làm việc ấy nên không dám cãi. Mọi người đều biết, theo thống kê của công an, có một tỉ lệ không nhỏ công chức đã làm việc ấy. Nhưng ai cũng đọc được tâm trạng bức xúc của ông khi trút giận lên các nhà báo, nói chung không chừa một ai, nhưng thật ra không có ý chỉ một ai. Ngừng một lúc ông mới hạ giọng:
- Phải có cái nhìn nhân ái với mọi người chứ không phải cứ nói cho thích khẩu để câu khách.
Việc này tất cả những người dự giao ban hôm ấy đều biết, đều chịu trận. Nó để lại trong tôi một vết hằn sâu nơi vỏ não. Sau đấy nhiều năm, lại hiện lên, sống động trở thành một chi tiết để tôi khắc họa nên tính cách nhân vật của mình.
Ông nói cũng thế, viết cũng thế, trò chuyện trên truyền hình hay trên báo in nhất là tờ An ninh thế giới giữa tuần, cuối tuần cũng thế. Người nghe, người đọc đều tâm phục khẩu phục.
Nhiều người làm công việc như ông, có lối nói lấy được, nói vơ vào kiểu tư duy duy ý chí. Những năm sáu mươi của thế kỉ trước, một người làm công việc như ông ở một tỉnh nhiệt tình ca ngợi:
- Máy cày của Liên Xô á? (thực ra là máy kéo để kéo máy cày, máy băm đất…). Khi chiến tranh xảy ra, liền biến thành xe tăng.
Các thầy giáo cấp ba ngồi dưới không dám cười. Cái nhà máy sản xuất máy kéo thời bình khi chiến tranh vệ quốc sắp xảy ra, liền chuyển sang sản xuất xe tăng, pháo, pháo tự hành… chứ.
Nhiều năm liền nghe ông nói cấm thấy một ai cười, trừ những chuyện cười vui.
Ông để lại trong tôi một ấn tượng sâu nặng. Tôi làm công tác quản lí báo chí xuất bản nên cũng nhiều suy nghĩ trăn trở về công việc. Cũng đã từng viết về công việc ấy trên tạp chí Cộng sản,Công tác tư tưởng văn hóa, báo Nhân dân, Nhà báo và công luận… Cũng đã có lần được mời vào tổ biên tập văn kiện đại hội Đảng bộ thành phố nên khi nghỉ hưu, chuyển hẳn sang viết văn, chủ yếu là viết tiểu thuyết mà là tiểu thuyết chính sự, chính trị xã hội, tôi nảy ra ý tưởng, phải đặt báo chí vào một vị trí xứng đáng trong tiểu thuyết của mình. 

Thế nên một nhóm nhân vật là nhà báo xuất hiện trong Luật đời và cha con (đã chuyển thể thành phim truyền hình, mang tên Luật đời, được khán giả bình chọn là phim truyền hình nhiều tập hay nhất năm 2007) và Lửa đắng tập 2: Công - công tác quản lí báo chí trên địa bàn; Nhâm - nữ tổng biên tập tờ Chính luận; Thu Phong - phóng viên của Nhâm; Phạm Năng Triển - Tổng biên tập tờ Thời luận; và ông Thụ, với chức danh đàng hoàng Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.
Nhà báo Hữu Thọ, nguyên Tổng biên tập báo Nhân dân, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, trợ lí Tổng Bí thư là nguyên mẫu nhân vật Thụ. Trừ chuyện có thật đã kể, tất cả các chi tiết, tình tiết của nhân vật Thụ khi giao ban báo chí với các tổng biên tập, khi làm việc với các đối tượng các cấp, khi đối thoại với cấp trên đều là hư cấu trên cơ sở hồn cốt, cốt cách của ông.
Vì Lửa đắng có gần bảy mươi nhân vật đề cập đến vấn đề cơ chế, hệ điều hành cơ chế, đội ngũ cơ chế với những nhân vật có chức danh rõ ràng, có số phận hẳn hoi nên bản thảo qua bảy nhà xuất bản từ Bắc vào Nam đều không được chấp nhận. Có nhà xuất bản nhận nhưng với điều kiện bìa trắng (không họa sĩ trình bày) chỉ có tên tác giả, tên tác phẩm kèm theo dòng chữ “tài liệu tham khảo” (vì nhà xuất bản này không có chức năng xuất bản sách văn học) mà cuối cùng cũng không xong.
Rất may có người giới thiệu với nhà văn Trần Dũng, quyền Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Lao động. Anh Dũng rất thích phim Luật đời, nên khi đọc Luật đời và cha con bảo, phim chỉ bằng 50 - 60% truyện thôi. Đến lúc đó tôi mới đưa bản thảo Lửa đắng ra. Anh đọc một ngày một đêm, gọi điện mời đến làm việc, nhưng trước hết xin được ôm hôn để tỏ lòng thân thiết ngưỡng mộ.
Vậy là viết mất hơn một năm, chạy nhà xuất bản mất một năm mới có nơi nhận.
Nộp lưu chiểu rồi, lại bị người ta “tâu” lên Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương rằng “phạm húy”.
Lo sốt vó, mang ngay sách đến tặng nguyên mẫu Hữu Thọ (đang ở cương vị trong ban trợ lí Tổng Bí thư). Ông bảo: 
- Mình cũng rất bận, lại cũng hay được anh em tặng sách. Có ngày nhận được đến ba cuốn, nên không đọc được ngay đâu.
- Em cũng biết thế. Nhưng cuốn này có những nhân vật trước nay chưa từng có, trong đó có cả… anh, lại có thể bị “thổi còi”… nên em muốn được anh bớt chút thời gian đọc.
Bất ngờ, một sáng chủ nhật, ông gọi điện đến.
- Đọc An ninh thế giới mới biết ông mới ốm dậy. Khỏe chưa?... Sách ông đọc được một mạch đấy!
- Thế có “phạm húy” không ạ?
- Có gì mà húy với kị. Tốt chứ sao. Thời này, mở cửa ra đã thấy mùi tiểu thuyết rồi.
- Thế nhân vật Thụ ạ?
- Tinh thần, tư tưởng được. Nhưng ông… cho tôi nhiều cái được quá! Tôi đâu được thế.
- Nhân vật lí tưởng mà anh.
Không thể con cà con kê như với bạn bè được. Tôi nói:
- Cảm ơn anh đã gọi. Thú thật là em... nhẹ hẳn người.
Quả thật, sau đó, nhà thơ Nghiêm Huyền Vũ, chuyên viên cao cấp của ban được giao đọc thẩm định Lửa đắng kể với tôi, không phải chỉ có lời giới thiệu sách của phó giáo sư, nhà thơ Vũ Duy Thông - Phó Tổng biên tập báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, mà ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng.
Nhưng quan trọng nhất là từ nguyên mẫu Hữu Thọ mà tôi nảy ra ý tưởng dựng một “bè” báo chí cho bản hợp xướng nhiều bè làm đa đạng phong phú cho tiểu thuyết của mình
N.B.S


chuyện thường ngày

10 sự kiện văn học nước ngoài năm 2015
 Năm 2015 sắp kết lại với nhiều sự kiện văn học diễn ra trong và ngoài nước. Trong đó, mảng văn học nước ngoài của VNQĐ đã thu hút hàng nghìn lượt truy cập theo dõi các sự kiện văn học trên thế giới. VNQĐ online tóm lược 10 sự kiện nổi bật để độc giả cùng nhìn lại năm qua:

1. Nobel 2015 thuộc về nhà văn, nhà báo người Belarus
Tác giả Svetlana Alexievich 67 tuổi, là nữ nhà văn thứ 14 giành giải Nobel Văn học và là nhà báo đầu tiên được vinh danh cho giải thưởng này. Bà cũng là cây bút kỳ cựu trong làng văn, làng báo với những tác phẩm miêu tả cuộc sống và chiến tranh Liên Xô trong thời kỳ hậu Xô Viết.

2. Sáp nhập hai giải thưởng văn học lớn của Anh
Nhà văn Hungary Laszlo Krasznahorkai đã giành giải thưởng Man Booker Quốc tế 2015 với phần thưởng trị giá 114,000$ (gần 2,5 tỉ VNĐ). Đây là giải thưởng trao 2 năm một lần cho các tác phẩm viết hoặc dịch sang tiếng Anh của các tác giả mọi quốc tịch.
Giải thưởng Man Booker hàng năm dành cho các tác phẩm xuất bản tại Anh năm nay thuộc vềtác giả Jamaica, Marlon James với cuốn tiểu thuyết A Brief History of Seven Killings (tạm dịch: Lược sử 7 vụ giết người).
Năm 2015, Man Booker cũng ghi dấu với sự sáp nhập hai giải thưởng văn học hàng đầu nước Anh là Independent foreign fiction và Man Booker International dành cho tiểu thuyết được viết và dịch bằng tiếng Anh xuất bản tại Anh. Giải thưởng này sẽ có hiệu lực ngay từ năm 2016.

3. Giải Folio
Akhil Sharma, tác giả gốc Ấn Độ đã vượt qua 7 ứng viên khác trong danh sách chung khảo đểgiành chiến thắng của giải thưởng Folio năm 2015 với tác phẩm Family life (tạm dịch: Cuộc sống gia đình).

4. Giải Goncourt
Giải Goncourt được sáng lập theo di chúc của Edmond de Goncourt vào năm 1896 để trao mỗi năm cho "tác phẩm văn xuôi xuất sắc nhất trong năm", nhưng hầu như chỉ trao cho tiểu thuyết. Mặc dù tiền thưởng của giải chỉ là 10 euro, nhưng sự nổi tiếng mà Goncourt đem lại cho cuốn sách sẽ là một phần thưởng vô giá.
Năm 2015, Giải Goncourt cho "Tác phẩm văn xuôi xuất sắc" thuộc về Mathias Enard (43 tuổi) với tác phẩm Boussole. Giải Tiểu thuyết đầu tay thuộc về Kamel Daoud với tác phẩm Meursault, contre-enquête (Tạm dịch: Meursault, cuộc tái điều tra). Giải Truyện ngắn được trao cho Patrice Franceschi (Pháp) với tuyển tập Première personne du singulier (Ngôi thứ nhất số ít), và hạng mục Thơ trao cho tác giả William Cliff (Bỉ).

5. Tác phẩm Baileys xuất sắc nhất trong 10 năm
Vượt qua chín tiểu thuyết nổi tiếng khác, cuốn sách viết về đề tài chiến tranh của Chimamanda Ngozi Adichie - Half of a Yellow Sun đã được độc giả bình chọn và hội đồng giám khảo (trong đó có Joanna Trollope, Shami Chakrabarti và Daisy Goodwin) đánh giá là tiểu thuyết “best of the best” (trên cả tuyệt vời).
Half of a Yellow Sun nói về cuộc nội chiến giữa Nigeria và Biafra - miền đất thuộc Đông Nam Nigeria. Câu chuyện kể về tình yêu, tình người vô cùng cảm động dưới lời kể của nhân vật Ugwu, người giúp việc trong nhà Odenigbo.

10 cuốn sách đoạt giải Baileys
6. Stephen King nhận huân chương từ tổng thống Obama
Stephen King, người được đánh giá là “một trong những nhà văn nổi tiếng nhất trong thời đại chúng ta” nhận Huy chương Nghệ thuật quốc gia Mỹ vào ngày 10/9 vì những đóng góp xuất sắc cho nền văn chương nước nhà.Tổng thống Barack Obama và phu nhân Michelle Obama sẽ trao giải thưởng này cho các nghệ sĩ tại Nhà Trắng.

7. Sự ra đi của 04 nhà văn lớn
Nhà văn Terry Pratchett (ảnh), người đã dẫn dắt hàng triệu độc giả say mê hành trình phiêu lưu tới vũ trụ trong loạt tiểu thuyết giả tưởng Discworld, đã qua đời ở tuổi 66 tại nhà riêng hôm 12/3.
Tomas Tranströmer, nhà thơ, dịch giả, nhà tâm lý học, chủ nhân giải thưởng Nobel 2011, “người biến hàng ngày thành những ngạc nhiên” đã qua đời tại Stockholm (Thụy Điển) ngày 26/3.
Gunter Grass, nhà văn người Đức đoạt giải Nobel năm 1999, tác giả cuốn The Tin Drum (Cái trống thiếc) qua đời ở tuổi 87.
M.H Abrams, nhà phê bình văn học nổi tiếng, tác giả của Chiếc gương và ngọn đèn, người đã góp công rất lớn trong việc định hình văn học hiện đại, đã qua đời ở tuổi 102.

8. Haruki Murakami giành giải văn học lớn nhất Đan Mạch
Giải thưởng Hans Christian Andersen là giải văn học lớn nhất Đan Mạch, được đặt tên theo nhà văn chuyên viết truyện cổ tích nổi tiếng Andersen. Phần thưởng trao cho người chiến thắng là tấm séc 500.000 kroner (tương đương hơn 1.6 tỉ VNĐ).
Năm qua cũng là năm tác gia người Nhật Bản ghi dấu khi lọt vào danh sách do tạp chí Time bình chọn là người có ảnh hưởng nhất thế giớicùng với Đức giáo hoàng Pope Francis (Ý), Kanye West (ca sĩ người Mỹ), Kim Jong-un (lãnh đạo tối cao Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) và Hillary Clinton (Cựu bộ trưởng Ngoại giao Mỹ)...
Để chứng tỏ tầm ảnh hưởng của mình, cuốn sách có tựa Mr. Murakami’s Place (tạm dịch: Nơi của Murakami) sau khi xuất bản ngay lập tức đứng vị trí bestseller (bán chạy) tại Nhật Bản. Mr. Murakami’s Place là tập hợp những câu trả lời của nhà văn cho thắc mắc của độc giả trong lần giao lưu trực tuyến đầu năm nay.

9. Giải David Cohen
Giải thưởng văn học danh giá Vương quốc Anh - David Cohen trị giá 40.000 bảng Anh năm 2015 thuộc về nhà thơ, nhà viết kịch Tony Harrison. Nhà thơ 77 tuổi bắt đầu làm thơ từ năm 7 tuổi. Harrison còn nổi tiếng với các bài thơ viết về cuộc xung đột trong Vịnh Ba Tư và Bosnia.

10. Giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu thuộc về Anthony Doerr 
Tác phẩm All the Light We Cannot see (tạm dịch: Ánh sáng không thể nhìn thấy) của tác giả người Mĩ, Anthony Doerr đã giành giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu xuất sắc với trị giá giải thưởng là 10.000USD.
Nói về cuốn sách, nhà phê bình Sharon Peters viết trên USA Today: "Rất hiếm tác giả có thể từ tốn nhưng quyết liệt kéo độc giả vào hành trình văn chương, giúp hiểu sâu sắc và kết nối mật thiết như vậy với nhân vật".