Monday, 30 November 2015

Khi Đế chế Ottoman chinh phục châu Âu

Urooj Qureshi

Image captionBản đồ cổ về Timisoara

Tôi trước đây hầu như không biết gì về chuyện một trong những quảng trường mình ưa thích ở Romania hoá ra lại là nơi có những bí mật được giấu kín dưới những đường phố hiện đại châu Âu.

Tôi từng nghe đồn ở Quảng trường Tự do (Piata Libertati) của Timisoara có một nhà tắm lộng lẫy kiểu Thổ Nhĩ Kỳ có từ thời đế chế Ottoman cai trị thành phố (1552-1716). Nhưng tôi chưa bao giờ thấy bất kỳ dấu hiệu nào ngoài một bảng chữ Ả-rập nho nhỏ trên tường một tòa nhà gần đó.

Tháng Chín 2014, tôi quay lại thành phố biên giới phía tây này của Romania và biết được những điều thú vị: giới khảo cổ đã khai quật được một nhà tắm 400 năm tuổi, được biết đến với cái tên gọi Grand Hammam (Nhà tắm sang trọng).

Việc khai quật vẫn đang tiếp tục, nhưng tôi chẳng thể chờ lâu thế để khám phá “báu vật” ấy. Tôi hỏi thăm và được biết hoá ra những gì tìm thấy không chỉ là một nhà tắm kiểu Thổ.

Nhóm khảo cổ thăm dò một số điểm xung quanh trung tâm khu vực có bề dày lịch sử này, và quá khứ Đông phương của thành phố đã lộ dạng từ dưới mặt đất.

Thật là ngất ngây khi biết điều đó. Một thành phố bạn cứ ngỡ đã tường tận rồi, bỗng dưng gỡ bỏ tấm mạng che mặt để trưng ra một diện mạo hoàn toàn khác. Một nơi hoàn toàn mới, đầy quyến rũ. Giống như một chuyến du hành ngược thời gian.
Thời kỳ sức mạnh Hồi giáo thống trị Trung Âu

Timisoara bị Đế chế Ottoman chinh phục vào tháng Bảy 1552.

Dưới sự chỉ huy của Kara Ahmed Pasha người gốc Albania, đội quân hung bạo đông khoảng 16.000 người đã chiếm thành phố và nhanh chóng biến nó thành thủ phủ của vùng Banat (nay thuộc ba nước Trung Âu là Romania, Serbia và Hungaria).

Trong hơn 160 năm, Timisoara được các vị hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ (Sultan) trực tiếp cai trị và trở thành trận tiền trong cuộc chiến khốc liệt giành giật lãnh thổ giữa Ottoman và đế quốc Áo-Hung, từ đó định hình vùng đất này trong những thế kỷ tiếp theo.Image captionQuảng trường Timisoara, Romania

Đứng trong khu vực khảo cổ Grand Hammam, ta có thể thấy tàn tích các buồng tắm cổ cùng các ống thông hơi đang được phục chế chậm chạp. Tôi đã đến Piata Libertati hàng chục lần mà chẳng hề biết là ở dưới lòng đất lại có những thứ như vậy.

Quảng trường nằm ngay giữa quảng trường Piata Unirii - nơi hẹn hò ưa thích với các quán bar, tiệm cà phê, và quảng trường Piata Operei - nơi tổ chức các hoạt động văn hoá và và sinh hoạt cộng đồng lớn của thành phố. Hai nơi ồn ào náo nhiệt đó khiến Piata Libertati như một ốc đảo yên tĩnh với những hàng cây lặng lẽ chỉ dành cho những ai ưa nhàn tản ngồi ngắm sự đời.

Hồi thế kỷ thứ 17, các quảng trường phải nằm ở vị trí lý tưởng để dân chúng có thể tụ họp.

Trong khi đó, nhà tắm kiểu Thổ dù ở nơi nào trên thế giới cũng phải là phòng tắm và là nơi thư giãn. Nó không chỉ là nơi khiến mọi người gần gũi nhau hơn, mà còn có vai trò tôn giáo trong việc giúp con người ta gột rửa tâm hồn.
Dấu ấn Thổ Nhĩ Kỳ

Quá trình khai quật tại Piata Libertati cho thấy Grand Hammam gồm 15 phòng tắm xếp xung quanh một đại sảnh nằm chính giữa.

Sàn phòng tắm được đặt trên các cột trụ vuông xây bằng gạch, nhằm để khí nóng từ lò hơi được lưu thông dễ dàng.

Ở mỗi phòng tắm đều có ống dẫn khí nóng vào và ống thoát hơi. Bên ngoài, những khu vườn xanh mát và sân sau các toà nhà kế cận khiến không gian thật êm đềm và riêng tư, là nơi lý tưởng để chuyện trò.Image captionDấu tích thi hài người Thổ Nhĩ Kỳ được tìm thấy chôn cất trong cỗ quan tài lớn tại nghĩa trang Hồi giáo Timisoara

Lần trước, khi tới thăm quảng trường trong một buổi sáng mùa xuân lành lạnh, tôi đã ước các nhà tắm hơi vẫn còn đó để mình được sưởi ấm.

Do muốn tìm hiểu thêm về những phế tích đang làm thay đổi bộ mặt của thành phố, tôi đã đến quảng trường thánh George - Piata Sf Gheorghe, nằm cách Piata Libertati gần 100m về phía tây.

Quảng trường nhỏ nhắn hình vuông này nằm lọt thỏm giữa các toà nhà mang lối kiến trúc thành Vienna của Áo.

Những lần trước đến Timisoara, tôi vẫn thường dạo qua nơi đây để ghé một trong các tiệm mua bánh mỳ xoắn hay nhặt vài quyển sách tiếng Anh bày trên những kệ sách tạm bợ. Nhưng những khám phá quan trọng tại Piata Sf Gheorghe gần đây thì lại giúp nhà khảo cổ Romania Florin Drasovean đưa ra tuyên bố đây là "thế giới của các vị thần, thế giới của sự sống và cái chết".

Trong nửa đầu thế kỷ 18, Đại úy François Perette của đội quân đế quốc Áo đã vẽ lại bản đồ Timisoara, trong đó ông đánh dấu một số “mục tiêu” quan trọng có từ thời Ottoman. Một trong những điểm quan trọng nhất là Đại thánh đường Hồi giáo Timisoara.

Cây bút lữ hành nổi tiếng từ thời Ottoman, nhà văn Evliya Celebi (1611-1682) trong tác phẩm của mình đã mô tả Đại thánh đường Timisoara như "chốn tuyệt vời để cầu nguyện".

Sau cuộc chinh phục của người Áo vào năm 1716, Thánh đường Hồi giáo bị chuyển thành nhà thờ Thiên chúa giáo và sau đó bị phá hủy.

Một nhà thờ mới được xây dựng tại đúng nơi mà Thánh đường Hồi giáo đã bị xoá sổ gần như mọi dấu vết - cho đến cuộc khai quật năm 2014.

Sau hàng thế kỷ ẩn mình, nền móng và các tuyệt tác khác có từ ngày xưa dần dần lộ dạng, khiến cho nhà khảo cổ Drasovean tái phát hiện ra "thế giới của các vị thần".Image captionViệc khai quật làm lộ diện cả một thành phố văn minh dưới lòng đất

Nhưng đó chưa phải là tất cả! Ngoài thánh đường Hồi giáo, các nhà khảo cổ trong quá trình đào bới Piata Sf Gheorghe còn tìm thấy vết tích của các ngôi nhà bằng gỗ và các ống dẫn nước.

Các ống nước này chính là hệ thống cấp nước đô thị đầu tiên tại Romania.

Tuy không phải là những người đầu tiên làm những ống nước nhưng người Thổ Nhĩ Kỳ đã dùng chúng để cấp nước cho các tòa nhà công cộng.

Những ngôi nhà gỗ đã có từ thời Trung cổ, trước khi người Thổ đến đây, và chúng đã tồn tại cho tới khi người Áo bắt đầu hiện đại hóa thành phố vào thế kỷ 18.

Các nhà khảo cổ cũng khai quật 160 ngôi mộ xung quanh Thánh đường Hồi giáo; hầu hết là mộ chôn cất tầng lớp thứ dân với các thi thể được bọc trong mảnh vải nguyên tấm theo tập tục Hồi giáo.

Để duy trì hòa bình và kiểm soát chính trị trong thời Ottoman, người Thổ Nhĩ Kỳ chấp nhận các thành phần tôn giáo, sắc tộc khác và không can thiệp vào lối sống của dân địa phương.

Điều này giữ cho Timisoara được yên ổn từ bên trong, thế nhưng thành phố vẫn phải đối mặt với các mối đe dọa từ bên ngoài. Vì vậy, người Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng cường khả năng phòng thủ cho thành phố.

Tận dụng lợi thế của các con sông Bega và Timis gần đó, họ đào hào xung quanh thành phố và xây một pháo đài. Pháo đài cao chót vót trên mặt nước với những bức tường dày tới ba mét được binh lính Ottoman canh gác.

Lối phòng thủ của Timisoara rất hữu dụng. Đội quân của Hoàng tử Eugene xứ Savoy (nay thuộc Pháp) chỉ hạ được thành vào năm 1716 nhờ việc người Thổ buộc phải quy hàng sau nhiều ngày bị vây hãm trong điều kiện thời tiết xấu bất thường.

Các nhà khảo cổ tin rằng những phát hiện gần đây mới chỉ là sự khởi đầu. Timisoara là thành phố có bề dày lịch sử với nhiều bí mật vẫn chưa được khám phá. Quả là lý do thật hấp dẫn để chúng ta đến thăm những quảng trường đầy hứa hẹn nơi này.

Bản gốc tiếng Anh bài này đã đăng trên BBC Travel.

Bí ẩn đằng sau hai cuốn sach.

“Hành trình về Phương Đông”


Vừa qua, cộng đồng mạng bình luận sôi nổi về việc có hai cuốn “Hành trình về Phương Đông” nhưng nội dung hoàn toàn khác nhau. Một cuốn do Nguyên Phong phóng tác và viết lại vào năm 1975 từ tác phẩm gốc “Journey to the East” của Baird T.Spalding, do NXB Adyar (Ấn Độ) ấn hành năm 1924. Cuốn sau rất dày do Huy Hoàng mua bản quyền từ “Life anh teaching of the Master of the far East” của Baird T.Spalding, gồm 6 tập, in năm 1986, do Anlebooks dịch, NXB Devorss & Company - Hoa Kỳ ấn hành.

Hai tựa tiếng Anh đã khác nhau, nhưng do sự nhập nhèm của dịch giả Anlebooks mà nhiều người nhầm tưởng bộ ra sau là “toàn tập”, nên cố mua cho trọn bộ. Đến khi cầm lên đọc mới tá hỏa: Cuốn sau chả liên quan gì đến cuốn “Hành trình về Phương Đông” rất nổi tiếng của Nguyên Phong.

Nội dung hoàn toàn khác nhau

Nếu như cuốn “Hành trình về Phương Đông” của Nguyên Phong dẫn dắt người đọc đến với thế giới của những trải nghiệm khoa học về năng lượng, tâm linh, thiền định, chữa bệnh, dưỡng sinh, yoga và các triết lý Phật giáo của các bậc tu sĩ Ấn Độ đắc đạo truyền lại, thì cuốn sau do Anlebooks dịch lại nói về thế giới vô hình, thuyết lượng tử, ý thức nhị nguyên, tập trung về Đức Chúa trời, chúa Jesus và Thượng đế. Do cách dịch quá bám sát bản gốc, chưa thoát ý, nên không ít người đọc bị lạc vào mê hồn trận của từ ngữ, rất khó hiểu và gọi cuốn sau là “bản dịch trời ơi”. Trong khi đó, “văn phong cuốn “Hành trình về Phương Đông” do Nguyên Phong dịch dễ hiểu, lôi cuốn, gần gũi, không triết lý cao siêu mặc dù nói rất sâu về khía cạnh tâm linh và tôn giáo”.

Một độc giả am hiểu khác, sau khi biết được có sự nhầm lẫn tai hại này, đã khẳng định: “Tôi từng đọc một số chương trong cuốn “Hành trình về phương Đông” do Nguyên Phong dịch và thậm chí cũng đã đọc nguyên tác bằng tiếng Anh. Và tôi lấy làm lạ khi thấy hai cuốn sách này gần như là khác nhau hoàn toàn, nếu tính đến từng câu chữ, từng chương sách. Thậm chí, tên sách của cuốn “Life and teachings of the Masters of the Far East” (tạm dịch: Cuộc sống và các giáo huấn của các vị thầy miền Viễn Đông) lại đặt đúng như tên sách “Hành trình về phương Đông” mà Nguyên Phong đã đặt hơn 30 năm trước, làm rất nhiều người bối rối và không biết phân biệt làm sao...”.

Khi có người hỏi nhân duyên nào tìm ra tập sách này để dịch và phổ biến như thế, dịch giả Nguyên Phong đã trả lời trên một tờ báo lúc đó: “Tình cờ tôi nhặt được cuốn sách trong thư viện. Cuốn sách cũ quá, nhưng bỗng nhiên tôi không muốn buông ra, bèn mượn cuốn sách này đem về đọc chơi. Nhưng lạ thay, suốt đêm ấy cuốn sách đã hoàn toàn chinh phục tôi, tôi đọc một mạch, rồi đọc lại. Những điều nói trong cuốn sách như vẽ ra cho tôi một vùng trời vừa huyền bí, vừa trong sáng, lại vừa như khơi dậy từ sâu thẳm của tôi niềm tự hào của nền triết học Đông Phương”.

Vì tác phẩm phóng tác “Hành trình về phương Đông” của tác giả Nguyên Phong quá xuất sắc và khác biệt so với bất kỳ bản gốc nào, nên vào năm 2009, NXB BookSurge Publishing tại New York cùng hai dịch giả Poven Leace và Biện Giang đã liên hệ xin phép Nguyên Phong để dịch ngược sang tiếng Anh với tựa “Journey to the East” với tên Nguyên Phong ở ngoài bìa ở vị trí như một tác giả. Cuốn sách tiếng Anh này đang song song phát hành cùng với tác phẩm “Life and Teaching of The Master of the Far East” của NXB Devorss & Company là NXB mà công ty Huy Hoàng mua bản quyền. Điều này khẳng định là hai cuốn sách này hoàn toàn khác nhau.

Nhân vật bí ẩn lộ diện

Không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách có số phận khá ly kỳ. Trong phần tái bản mới có ghi: “Xuất bản lần đầu ở Ấn Độ năm 1924, “Hành trình về phương Đông” đã gây tranh cãi không chỉ ở nước Anh mà ngay cả ở Châu Âu và Mỹ. Sau đó, vì tự ái và sĩ diện, Chính phủ Anh cấm phát hành cuốn sách này ở Anh Quốc, rồi Chiến tranh Thế giới thứ hai xảy ra, cuốn sách không còn được tái bản nữa và thất lạc”.

Có người cho rằng, rất có thể, chính Nguyên Phong là tác giả của cuốn sách. Vì một lý do nào đó, ông đã không thừa nhận điều này. Thế nên mới có sự “biến mất” bí ẩn của tác giả, NXB (đóng cửa) và ngay cả nguyên tác cũng không lưu lại ở bất cứ thư viện lớn nào trên thế giới.

Vậy, Nguyên Phong là ai mà độc giả hâm mộ đến như vậy? Một con người cực kỳ khiêm tốn, một học giả của nhiều đầu sách dịch giá trị, nhưng đặc biệt - cái tên Nguyên Phong chỉ là bút danh. Ông là giáo sư John Vũ (tên thật là Vũ Văn Du). Các tác phẩm do ông dịch đã được First News - Trí Việt xuất bản ở VN gồm: “Ngọc sáng trong hoa sen”, “Bên rặng Tuyết Sơn”, “Hoa trôi trên sóng nước”, “Minh triết trong đời sống”, “Đường mây qua xứ tuyết”…

Khi bức màn bí mật về nhân vật Nguyên Phong được vén lên, thật bất ngờ, đó là một con người kiệt xuất. GS John Vũ - Nguyên Phong là một trong những nhà khoa học nổi tiếng ở Mỹ. Hiện nay, Giáo sư kiêm Viện trưởng Viện nghiên cứu phần mềm của ĐH Carnegie Mellon và là nghiên cứu viên kĩ thuật và kĩ sư trưởng Công nghệ thông tin tại Boeing. Trong 15 năm làm việc ở Boeing, ông từng tham gia vào chương trình phần mềm hỗ trợ cho máy bay Boeing 777 và là nhà vô địch về cải tiến qui trình ở Boeing...

Ông từng giữ vị trí Phó Chủ tịch phụ trách kỹ thuật của Boeing. Ông đã từ chối nhận nhiều giải thưởng rất uy tín của Mỹ và từ chối các cuộc phỏng vấn của các hãng thông tấn uy tín. Ông nhận lời thỉnh giảng và nói chuyện với sinh viên nhiểu trường đại học lớn trên thế giới.

Họa sĩ lão thành PHAN KẾ AN,

 

Nguyen Nhu

" HOA HÔNG " là tên tác phẩm hội họa cuối cùng của họa sĩ lão thành tên tuổi PHAN KẾ AN, được ông hoàn thành năm 2012 khi đã ở tuổi 89. Ông cho biết Bảo tàng Mỹ thuật VN muốn mua lại tác phẩm này, nhưng ông giữ lại để dành cho con cháu trong nhà.
Họa sĩ PHAN KẾ AN sinh năm 1923 tại làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây - Hà Nội. Ông là con trai của Khâm sai đại thần PHAN KẾ TOẠI ( Sau cách mạng Tháng Tám 1945, cụ Phan giữ chức Bộ trưởng bộ Nội vụ rồi phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam DCHC ). PHAN KẾ AN là họa sĩ nổi tiếng, là người đầu tiên được ký họa chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh.
Những tác phẩm hội họa tiêu biểu của ông:
- Nhớ một chiều Tây Bắc. 
- Những đồi cọ.
- Bác Hồ làm việc ở lán Nà Lừa.
- Hà Nội tháng 12 - 1972.
- Cánh đồng Bản Bắc.
- Gác chuông.
- Hoa hồng.
.......
GIẢI THƯỞNG: 
- Giải nhất triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc các năm 1951,1955,1960.
- Giải thưởng Nhà nước về VHNT 2001.

MÙA HÈ vừa qua tôi đến thăm họa sĩ Phan Kế An tại nhà riêng phố Thợ Nhuộm Hà Nội. Trước khi đến tôi gọi điện cho người giúp việc, vì lúc này sức khỏe họa sĩ đã giảm sút, thính lực yếu không nghe điện thoại trực tiếp được nữa. Một lúc sau người giúp việc trả lời là ông cháu đồng ý tiếp bây giờ. Biết họa sĩ rất trân trọng những tác phẩm văn hóa của bạn bè con cháu tặng, nên quà tôi mang theo lần này là cuốn tiểu thuyết ĐỐT TRÚC của mình mới được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản và phát hành.

Cầm cuốn sách trên tay ông hỏi tiểu thuyết viết về gì? Tôi tóm tắt đôi điều về nội dung cuốn sách. Ông tần ngần hồi lâu rồi bảo, như thế là nhân vật chính trong truyện có thể là giống với thân phận một người bạn thân của ông, và nếu như thế thì cuốn sách này sẽ như là một nén hương thơm tưởng nhớ tới ông ấy. Ông bảo như thế thì ông sẽ cố gắng đọc ngay và đọc hết mặc dù có dài tới trên năm trăm trang.

Họa sĩ Phan Kế An bảo tôi chụp cho ông mấy bức ảnh kỷ niệm ông cầm cuốn ĐỐT TRÚC trên tay và ngồi trước bức tranh HOA HỒNG, bức tranh cuối cùng sự nghiệp hội họa đời ông. Lúc đó tôi đã bấm máy hàng chục kiểu về ông, trong đó có mấy kiểu ông cầm cuốn sách. Nhưng những bức ảnh cầm sách ấy tôi thấy không đẹp, nên chỉ xin gửi tặng các bạn bức ảnh ông đang nói chuyện với tôi, còn cuốn ĐỐT TRÚC thì để bên cạnh. Quả thật với bức ảnh này tôi tự cảm thấy cái thần thái cùa người họa sĩ tôi yêu quí và kính trọng đã được bộc lộ khá rõ nét.

Sunday, 29 November 2015

Bùi Việt Hưng (1978-2005)

Bùi Việt Hưng (1978-2005)
Ký hoạ cho 1,000 bức tranh về Hà Nội
2000-2002
Mực trên giấy, 20 sổ ký hoạ
Nghệ sĩ muốn thực hiện 1,000 bức tranh về phố ở Hà Nội và ghi chép lại cuộc sống ở Hà Nội bằng quan sát của mình.




· . Gần 50 cuốn sổ cùng loại ghi lại hàng ngàn giờ trung thành với chỉ một mong muốn, một ý chí, và một tình yêu. Điều đáng tiếc là hoạ sĩ ra đi sau khi hoàn thành được 200 bức vẽ ở tuổi 27. Có bao giờ bạn thấy mình cần sống trung thành với chính mình? Nhớ đến xem các ký hoạ của Bùi Việt Hưng nhé. Chỉ hai ngày nữa là triển lãm Kệ sẽ kết thúc.

“Đến lúc nào đó phố cổ chỉ còn là ký ức. Hà Nội cổ chỉ còn trong tranh thôi. Tôi cảm thấy sứ mệnh của mình là ghi lại phố cổ một thời”, đó là tự sự về “mối tình dang dở” với Hà Nội của chàng họa sỹ Bùi Việt Hưng.

Từng được họa sỹ Thành Chương nhận xét: “Vô cùng xúc động và cảm phục một tấm lòng và một tài năng của một hoạ sỹ trẻ với phố cổ Hà Nội, với quê hương Việt Nam”, Bùi Việt Hưng với tình yêu cháy bỏng đã đưa những con phố cổ trở nên gần gũi hơn với những người con yêu Hà Nội…

Phố cổ trong tâm trí vẽ như một duyên tiền định!

“…Lạ thật, một ngày không xuống phố thấy nhớ. Kiểu gì cũng phải kiếm cớ lượn lờ một vòng Hồ Gươm, phố cổ. Cuộc sống xung quanh khu phố thật giản dị. khám phá nhiều cái hay, đáng yêu, thích thú, càng khám phá càng thấy đẹp. Hãy làm chút gì đó có ích dù nhỏ nhoi!




Phố cổ Hà Nội ngồi đâu cũng thấy đẹp cũng vẽ được thành tranh. Bất cứ góc nào dù chỉ một bậc thềm, một viên gạch cũng chứa đựng điều gì như muốn nói, như người bạn, chứa đựng tính nghệ thuật không đâu có. May mắn cho ai có cảm giác này. Tôi có duyên may vừa cảm nhận được vừa thể hiện được lên trang giấy phố Hà Nội.

Sáng sớm 11/9/2001 ngồi ở cà phê 63 Hàng Mã nhìn xuống phố thấy có cảm giác rất lạ... phố Hàng Đồng như ngõ, như làng quê, ít người, bà già đi bộ, người gánh hàng rong ăn sáng. Phố bình yên như chưa một ngày náo nhiệt, cảnh phố thanh bình, giản dị, đẹp mộc mạc đơn sơ.

Cái gì có giá trị thực sự tự nó tồn tại thôi. Một bức tranh có thể lúc đầu nhìn không thấy đẹp, thậm chí không thấy ưa. Sau lâu đấy lại thấy tranh (Phố) có cái gì chứa đựng trong đó; một không khí, một mùi vị rất cổ, rất phố, nhìn qua tưởng bẩn, xấu, xong càng ngày càng thấy hay.

Nó chứa đựng linh hồn, điều gì đó rất bí ẩn cần khám phá. Kỳ lạ chưa! Càng để lâu càng thấy đẹp. Phố cổ là thế, cổ mà hiện đại, không lỗi mốt. Mỗi bức tranh như một tâm sự rất riêng- tâm sự Người -Phố”.



Đến lúc nào đó phố cổ chỉ còn là ký ức...

“…Có tiền sẽ mua máy ảnh.Cuộc sống diễn ra nhanh quá, vẽ không kịp, không sống động được. Ngồi nhìn thấy tiếc. Phải có thời gian chờ đợi. Khi nào có điều kiện sẽ mua máy ảnh. Cuộc sống đơn giản, đẹp bình dị.

“Đây là đài truyền thanh phường Cửa Đông”! Không hiểu sao mỗi lần nghe nhạc hiệu này đều có cảm giác lạ, thấy hay mãi không chán.

Sáng ngồi cà phê 92 Hàng Mã. Trời thu chả nắng cũng chả mưa. Hơi buồn tĩnh mịch rất gợi hình ảnh phố xưa. Quán mới thay bàn ghế sắt thành đồ gỗ, mây tre rất cũ, cảm giác bâng khuâng.

Không hiểu sao mỗi lần ngồi ở đây lại thấy cảm giác rất lạ, hay là tại quán gần nhà 63 Phùng Hưng nhà cũ của ông bà nội tôi - nơi tôi đã được sinh ra. Hay là vì ở đây rất “Phố cổ”: từ những gốc bàng, lồng chim, bậc thang lên những ô cửa đen kịt sâu hun hút”.




“…15/2/2002 mồng 4 tết, chiều đi đến chùa Vân Ngọc Đường Âu Cơ. Trong chùa thấy yên tĩnh, thư thái, nhiều mảnh đời bất hạnh, ngắn ngủi. Thấy cuộc đời rất nhẹ, ngắn, không thấm gì tuổi triệu năm vũ trụ. Tự nhiên muốn vẽ hết chùa đình Hà Nội.

Mỗi ngày ra cầu Long Biên lại thấy khác. Đứng giữa cầu cảm giác rất lạ. màu nước sông Hồng, bến nước thay đổi chút ít, nước mới hạ, xung quanh đỏ quạch. Mênh mông mãi giữa mênh mông, dòng sông mới rút một màu đỏ au.

Chiều đi bộ cầu Long Biên nghe thấy mọi chuyện của người lao động, chuyện bình dân, nhiều câu ấn tượng muốn đưa vào tranh. Từ nay sẽ ghi chép những câu đó. Chỉ ghi những câu thật ấn tượng về cuộc sống xung quanh. Thấy cảnh vật là thật nhất, người lao động thật nhất.



Phố Hàng Nón buổi chiều cứ có một bà già đẩy xe đi bán dầu. Nghề hiếm thấy ở Hà Nội. Chiều ngồi vườn hoa phố Trấn Vũ nhìn hoàng hôn hồ Tây khá hay. Lại có thêm sở thích ngắm hoàng hôn, mặt trời lặn hồ Tây.



“…Mùa Thu, đầu Đông trời lành lạnh nhìn xuống phố. Cà phê gác 2 Phủ Doãn biệt thự cổ Pháp lát gỗ sàn đi kêu lộp bộp. Một nơi rất yên tĩnh thú vị thư thái nhìn xuống đường Tràng Thi người đi hối hả khá xô bồ.



Phải đi lên cầu thang khá tối mới tới được góc khuất yên tĩnh này. Khi có tiền tôi sẽ mua ngôi nhà giống thế này để vẽ tranh. Ngồi đây có cảm hứng rất lạ, như tăng sức mạnh cho tôi rất khó hiểu từ hồn vía của những ngôi nhà rất cổ kính. Hay tại bởi nơi tương tự như nơi tôi đã được sinh ra luôn có vị trí thiêng liêng nhất với mỗi con người một lần xuất hiện trên đời này.



Ngôi nhà sàn gỗ, kiểu cổ Pháp. Không gian không rộng nhưng tạo cảm giác rất thoáng. Mắt đảo xuống hè đường, hàng cây, quán cóc, yên tĩnh mà không cô quạnh. Cảm tưởng được sống trong không gian thế này để vẽ về phố cổ cả đời không chán!



Xem bức ảnh “Cầu Giấy năm 1883” thấy khác quá, hơn 100 năm có quá nhiều thứ thay đổi. Hà Nội 100, 200 năm (hay hơn nữa) về sau sẽ thay đổi. Đến lúc nào đó phố cổ chỉ còn là ký ức và những người vẽ phố cổ như tôi sẽ không còn nữa. Hà Nội cổ chỉ còn trong tranh thôi. Tôi cảm thấy sứ mệnh của mình là ghi lại phố cổ một thời. Đến lúc nào đó sẽ có ý nghĩa vô cùng và việc tôi làm không phải là vô ích...”.



Đôi nét về họa sỹ Bùi Việt Hưng

Bùi Việt Hưng (1978 - 2005) vốn là cựu học sinh khối chuyên Lý, trường PTTH Amsterdam Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp ĐH Kinh tế Quốc dân, niềm đam mê hội họa và tình yêu Hà Nội đã thôi thúc anh dành hết thời gian để vẽ.

Với mong muốn lưu giữ lại một Hà Nội với những mái ngói liêu xiêu, những ngôi nhà cổ chìm trong rêu phong, anh muốn vẽ đủ 1000 bức tranh đúng vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Và chỉ trong năm 2002, anh đã hoàn thành 200 bức tranh giấy dó.

Dáng tiếc năm 2005, khi mối tình với Hà Nội thân yêu đang ở độ thắm, anh đã ra đi mãi mãi, để lại những ước vọng và cả niềm đam mê dang dở… Và bên trên là một vài tâm tư của Bùi Việt Hưng về Hà Nội phố lược trích trong hơn 40 quyển ký họa, một tình yêu Hà Nội rất đáng trân trọng đã tạo nên một vóc dáng rất riêng về Hà Nội phố của người con đất Hà thành.





Saturday, 28 November 2015

Tháp ký ức

Posted: 27/11/2015 

Tháp Chàm Bàng An

Năm đó tôi mười một tuổi. Sau mấy năm ròng rã mài đũng quần ở ngôi trường tiểu học dột nát ở làng trên, thuộc nát bấy cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư, và lãnh những trận đòn thừa sống thiếu chết vì tội trốn học đi bẫy chim đá dế ngoài đồng, tôi may mắn trúng tuyển vào trường trung học công lập cấp tỉnh duy nhất của tỉnh Quảng Nam, trường Trần quý Cáp.

Hôm đi coi bảng, tôi chẳng có hy vọng gì mấy. Tỉnh Quảng Nam có đến hàng trăm xã ấp, mỗi xã có một trường Tiểu Học, mỗi trường Tiểu Học có một lớp Nhất, tức là lớp Năm sau này. Mỗi lớp Nhất có khoảng năm chục đứa học trò mà trong đó có tới bốn mươi đứa tham gia cuộc thi tuyển, tính ra không dưới năm ngàn thí sinh. Trường Trần Quý Cáp có sáu lớp đệ Thất, cao lắm khoảng ba trăm học sinh được tuyển vào mỗi năm, còn mấy ngàn đứa kia thì có nhiều hy vọng về nhà… chăn trâu trừ phi được cha mẹ cho vào bán công hoặc tư thục. Lúc còn học tiểu học, tôi thích chơi nhiều hơn thích học, những con cá rô cá cấn, chim giồng giộc chim sâu trông hấp dẫn hơn những bài địa dư sử ký, bị thầy bắt quỳ gai mít hoài mà vẫn chứng nào tật nấy. Tuy nhiên, bà nội tôi tin tưởng mãnh liệt vào câu học tài thi phận, vả lại chuyện thi cử là chuyện thiên kinh địa nghĩa nên cuối cùng mẹ tôi vắt cho tôi một mo cơm nắm, dúi vào tay tôi mấy đồng bạc để đi ‘xe điện’ – danh từ địa phương dùng để chỉ xe đò- xuống Hội An dự thí.

Chen lấn mãi mới đến gần được tấm bảng gỗ có dán danh sách thí sinh trúng tuyển, tôi dự định sẽ đọc cái danh sách từ dưới lên, chừng năm mươi hàng mà chưa thấy tên mình thì tốt hơn chui trở ra cho đỡ mất thì giờ. Ai dè mới đọc được có mấy hàng đã thấy tên mình. Tôi dụi mắt hai ba lần, đọc lại cho kỹ vẫn thấy tên mình còn sờ sờ ở đó bèn mừng rỡ mở một đường máu chui ra khỏi cái đám con nít đang xô đẩy nhau, chửi mắng nhau, la hét, cười khóc ồn ào như cái chợ nhỏ. Thằng bạn cùng làng cũng vừa mới thoát ra khỏi cái đám đông hỗn tạp, mặt mày tái mét, thở hổn hển hỏi tôi:

‘Bộ mày đậu rồi hay sao mà nhảy tưng tưng vậy?’

‘Đậu rồi. Còn mày?’

‘Tao đậu bình thứ. Còn mày?’

‘Tao không biết. Tên tao ở hàng thứ năm.’

Thằng bạn tròn mắt ngạc nhiên:

‘Thứ năm? Vậy là mày đậu ưu rồi.’

Hắn gãi đầu có vẻ suy nghĩ, nói tiếp:

‘Hồi nãy tao xem bảng kỹ lắm mà tại sao không thấy tên mày.’

Tôi bỏ mặc thằng bạn đứng ngẩn ngơ, đi bộ ra bến xe đón xe đò về nhà.

Việc tôi đậu vào đệ Thất trường công lập, dù đậu hạng bét, là một sự kiện đáng kể cho gia đình tôi, vốn gồm có bà Nội, Mẹ tôi, tôi và ba đứa em gái còn nhỏ xíu. Mấy năm về trước, sau khi đã chán công việc sản xuất và dưỡng dục nhi đồng, Ba tôi quay lưng lại người vợ đáng thương và bầy con nheo nhóc, bỏ đi giang hồ vặt, lâu lắm không nghe tin tức. Mẹ tôi ở lại một mình tảo tần buôn bán, nuôi nấng bầy con. Bây giờ thằng con lớn được vào trường tỉnh học, bà vừa mừng lại vừa lo bởi vì chỉ còn vài tuần nữa là thằng con phải đi xa trọ học.

Làng tôi cách thị xã Hội An -còn được gọi là Phố hay Faifo- khoảng gần ba chục cây số. Muốn đến thị xã, tôi phải đi bộ bốn năm cây số, băng qua chiếc cầu xe lửa dài ngoằng bắc ngang qua con sông Thu Bồn nuớc trong veo, rồi leo lên cái ‘xe điện’ duy nhất của tuyến đường Kỳ Lam-Hội An để kết thúc cuộc hành trình. Gần đến Vĩnh Điện, quận lỵ Điện Bàn, xe đi ngang qua tháp Chàm Bàng An, một di tích lịch sử. Ngôi tháp cổ xây bằng gạch nung, lâu ngày rêu phong bám đầy, đứng im lìm, sừng sững nhìn xuống con đường trải đá lầm bụi chạy dài từ quận lỵ về đến vùng núi non tiếp cận dãy Trường Sơn. Cây tháp chứng nhân của một triều đại đã suy tàn mà mỗi khi nhìn thấy đã gợi trong tôi những ấn tượng mạnh mẽ, những cái tên như Chế Mân, Chế Cũ, những Lý Thường Kiệt, Trần Khắc Chung, những câu chuyện huyền hoặc về những người dân của một quốc gia đã bị xoá tên.

Vậy là tôi bắt đầu cuộc đời trọ học từ lúc còn rất trẻ. Cứ mỗi vài tuần tôi lại đáp xe đò từ tỉnh lỵ về, băng qua chiếc cầu xe lửa bằng sắt, sải những bước chân nôn nao trên con đường đất khi thì nứt nẻ mấp mô, khi thì lầy lội trơn trợt, bỏ lại sau lưng những ruộng lúa nghèo nàn, những bãi dâu tươi tốt, rặng tre xào xạc, tiếng rầm rập của những máy dệt vải bằng gỗ, tiếng sè sè của những chiếc trục ươm tơ, lòng hớn hở khi nhìn thấy cái hàng rào quen thuộc có những bông hoa dâm bụt đỏ chói. Rồi có tiếng con chó Vàng sủa ăng ẳng mừng rỡ, tiếng mấy đứa em kêu réo om sòm ‘Mẹ ơi anh Hai về’, rồi bà Nội đứng ở ngưỡng cửa đưa bàn tay nhăn nheo có dính những vệt vôi ăn trầu lên xoa đầu đứa cháu nhỏ hỏi han ‘Con đi đường xa có mệt không’, rồi Mẹ đôi má ửng hồng bên ánh lửa rơm nhìn tôi mỉm cười dịu dàng ‘Mẹ biết thế mô con cũng về bữa ni, cái con mắt trái hắn giựt giựt hồi sáng tới chừ’.

Rồi trong bữa ăn tối thế nào cũng có hoặc là nồi canh cá diếc nấu rau răm, hoặc là ‘trã’ cá đồng kho khô, những món ăn mà tôi ưa thích. Dưới ánh đèn dầu, gia đình tôi quây quần vui vẻ bên nồi cơm độn bắp bốc khói, nói chuyện không ngừng. Mấy đứa em tôi hỏi tôi hàng trăm lần về những chiếc ‘xe điện’, xe ‘bình bịch’ mà họa hoằn lắm chúng mới có dịp thấy, những con khỉ đá, chó đá ở chùa Cầu, những đoàn hát bội nổi tiếng chúng chưa bao giờ được xem. Mẹ tôi bận rộn suốt buổi cơm, la đứa này, nạt đứa kia ‘Con gái chi mà cái miệng xon xỏn’, hỏi tôi về chuyện học hành, ăn ở ‘Họ có cho con ăn uống đàng hoàng không? Tối mi ngủ có treo mùng không hay là cứ làm biếng ngủ trần để muỗi cắn mi chết.’ Tôi biết Mẹ đang vui bởi vì tôi và mấy em tôi cũng đang vui. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp trong mắt Mẹ long lanh một nụ cười lặng lẽ hiếm hoi kể từ khi bà phải một mình gồng gánh gia đình trong đơn chiếc, từ khi ‘Vai xuân thì bánh mật ngã màu đen’ (1) bởi cái gánh hàng nặng trĩu bà mang đi mang về hàng vài mươi cây số mỗi ngày để kiếm tiền nuôi nấng bầy con. Rồi hôm sau tôi lại quay về tỉnh lỵ nơi có căn nhà nhỏ mà tôi và những thằng bạn đồng cảnh ngộ đang ở trọ.

Trường có sáu lớp đệ thất thì hết năm lớp dành cho học sinh với ngoại ngữ chính là Pháp văn. Tôi được đưa vào đệ thất 3, ngồi ngay sau lưng đám học trò con gái. Học trò nhà quê lên tỉnh học dễ bị ăn hiếp. Chỉ cần nhìn cái mặt ngơ ngáo, quần áo lôi thôi, đôi dép râu thô kệch để lòi đôi bàn chân sứt sẹo vì lội ruộng bắp, đánh banh bòng banh bưởi là biết ngay. Trong lớp tôi có mấy đứa chuyên môn đi bắt nạt mà đứng đầu là thằng Bạo. Thằng này tên giống như người, mặt mày bặm trợn, lỗ mũi lúc nào cũng đỏ bóng như trái cà chua. Nó thích bắt nạt tôi, chẳng biết vì lý do nào. Nạn nhân kế tiếp phải kể đến Phạm Dó. Thằng này đáng lẽ tên Phải Gió hay Trúng Gió thì mới phù hợp với câu tên sao người vậy. Phạm Dó người nhỏ xíu, ốm tong ốm teo, nhà ở bên kia sông, nơi gọi là Cẩm Giàng Cẩm Phả gì đó. Tôi đã nghèo mà thằng này còn nghèo hơn, đi học mang đôi dép làm bằng mo cau kéo lệt xệt dọc hành lang nghe muốn điếc con ráy. Mỗi lần thấy đám thằng Bạo là mặt mày nó tái mét, tay chân giật đùng đùng như mắc phong, mắt lác xệch đi, ngay cả thằng Bạo trông thấy cũng phát ớn, bỏ đi tìm tôi hay Vĩnh Hoành để trêu ghẹo. Vĩnh Hoành dòng dõi hoàng tộc, vai vế ngang hàng với công dân Vĩnh Thụy, vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn. Đám thằng Bạo tước đoạt của thằng này khá nhiều tư trang vật dụng, ngay cả cây viết ‘pilot’ mới toanh cũng đổi chủ ngay từ lúc Vĩnh Hoành mang tới trường lần đầu. Tôi vốn nhát gan, thấy đám cô hồn là lo kiếm đường dông trước, vậy mà cũng không thoát tay tụi nó. Có lần thằng Bạo làm quá, đẩy tôi té dập đầu vào vách tường thiếu điều long óc. Tôi giận quá quên cả sợ, vác chiếc ghế dựa của ông thầy rượt nó chạy lòng vòng cái hành lang dài ngoằng của sáu lớp đệ thất. Sau lần đó, tôi có biệt danh là ‘Trừ… Bạo’, và không còn bị ăn hiếp nữa.

Giáo sư Việt văn kiêm hướng dẫn lớp đệ thất 3 là thầy Kham, Tôn Thất Kham. Theo chỗ tôi biết, thầy là người nhạy cảm và rất thương học trò. Vài tháng sau khi trường khai giảng, vùng tôi ở bị mấy cơn lụt lội, hoa màu bị tàn phá, chợ búa đóng cửa cả tháng. Mẹ tôi không đi buôn bán được, thiếu tiền trả tiền trọ học cho tôi. Tôi nhờ người quen giới thiệu đến một lò bánh mì dưới phố để xin lãnh bánh mì đi bán buổi tối phụ với Mẹ trả tiền cho chủ trọ. Mỗi đêm tôi hăng hái vác cái bao tải chứa những ổ bánh mì thơm tho nóng hổi đi vào các khu xóm rao bán. Có lần tôi đang ngoác miệng rao inh ỏi ‘Bánh mì nóng dòn đây’ bỗng có tiếng ai nghe quen quen gọi lại hỏi mua. Đến gần, tôi nhận ra thầy Kham. Thầy trò nhìn nhau ngỡ ngàng. Hình như mắt thầy hơi ươn ướt. Cuối cùng thầy dành mua hết những ổ bánh mì còn lại của buổi tối. Tôi còn nhỏ, đầu óc khờ khạo nhưng cũng biết là thầy muốn giúp mình, chứ thầy cũng ở trọ đi dạy học làm gì mà một mình có thể ăn hết chừng ấy bánh mì trong một vài hôm. Từ đó thầy có vẻ quan tâm đến tôi một cách đặc biệt, và đáp lại, tôi cũng chịu khó học hành đàng hoàng trong giờ Việt văn.

Chiếc bàn học dành cho học trò con gái phía trước tôi có đến hai chị lớn ngồi. Chị lớn là danh từ chung lũ học trò con trai dùng để gọi những nữ học sinh lớn tuổi mà không biết vì lý do nào lại được sắp vào cái lớp con nít này. Chị Bích Ngọc và chị Thuận là hai nhân vật ưa thích của tôi. Hai chị đều lớn hơn tụi tôi năm, sáu tuổi, vào khoảng mười sáu hay mười bảy gì đó trong khi đám còn lại cả trai lẫn gái mới có mười một, mười hai tuổi. Chị Bích Ngọc tóc dài, chị Thuận tóc quăn, hai người đều… dễ thương. Tôi biết được điều đó qua miệng mấy anh lớn học trên đệ nhị cấp hay lảng vảng ngoài hành lang nhìn vào. Riêng tôi và mấy thằng quỷ sứ ngồi cùng bàn đồng ý là mấy chị rất tốt bụng. Trong giờ học, thay vì… thả hồn ra cửa sổ, chúng tôi để hết tinh thần vào việc chọc phá mấy chị lớn, từ việc cột mấy vạt áo dài lại với nhau cho đến việc dán những tờ giấy vẽ hình nhăng nhít vào tóc vào áo của mấy chị, chúng tôi đều thực hiện với một lương tâm chức nghiệp rất cao. Kết quả vô cùng vẻ vang. Hai chị dắt chúng tôi ra cái quán nước nhỏ xíu của vợ chồng bác gác trường, mua cho chúng tôi kẹo mè xửng và kẹo ‘nougat’ sau khi bắt chúng tôi long trọng thề thốt sẽ không bao giờ tái diễn những hoạt động có tính cách phản nghệ thuật như vậy nữa.

Niên học đầu tiên rồi cũng qua đi, đánh dấu bởi những chuyến đi cắm trại ở Cửa Đại, ở đó chúng tôi đốt lửa trại thi đua văn nghệ. Cũng trong niên học này, tôi quen biết Thước, người bạn cùng lớp mới mười hai tuổi đã biết làm thơ, biết đọc Ngàn Khơi và Tiểu Thuyết Thứ Bảy, nhũng tạp chí văn chương dành cho người lớn. Rồi những lần theo Phạm Dó qua bên kia sông thăm gia đình hắn, cái gia đình nghèo rách mùng tơi mà vô cùng hiếu khách. Rồi những trò đùa nghịch ngợm, độc ác một cách vô tội của tuổi thơ, những con sâu đo gớm ghiếc làm lũ học trò con gái khóc thét, cuống cuồng sợ hãi. Rồi những buổi tối lang thang dọc bờ sông Phố, nơi có cái rạp chiếu bóng duy nhất của thị xã, để xem nguời lớn câu cá hanh bằng những cây cần trúc dài ngoằng. Và khi những chùm hoa phuợng rực rỡ nở ra trên những tàn cây xanh ngắt trong sân trường, chúng tôi tặng nhau lưu bút, hẹn sẽ gặp lại vào mùa Thu tới.

Thầy Kham không còn là thầy hướng dẫn của chúng tôi. Thầy ở lại với đám học trò mới của lớp đệ thất 3. Giáo sư Việt văn kiêm hướng dẫn của đệ lục 3 là đàn bà, đàn bà đẹp. Cô giáo tên Tố Quyên, nguời Bắc. Lúc thầy giám thị đưa cô vào để giới thiệu cho cả lớp, đám học trò con trai đứa nào đứa nấy im thin thít, trống ngực đập còn hơn trống làng. Bởi vì cô trẻ quá, đẹp quá, giọng Bắc Kỳ êm quá, và trông cô… dễ thương quá. Sau buổi học đầu tiên, thằng Thước, thi sĩ nhi đồng, về nhà làm ngay mười mấy bài thơ tình ướt át gọi gió than mây.

Vào giữa niên học, cô Tố Quyên cho chúng tôi bình giảng truyện ngắn Vàng Tháp Hời của Vũ Hạnh. Đã hơn ba mươi năm, những chi tiết của câu chuyện tôi không còn nhớ nữa, chỉ nhớ đại khái là có hai anh em nhà kia rủ nhau đi tìm vàng trong một ngôi tháp cổ của dân tộc Chiêm Thành, cuối cùng vì một trong hai người nghe lời xúi dục của ngoại nhân mà gây nên cảnh huynh đệ tuơng tàn. Vào thời điểm đó, đối với tôi câu chuyện chỉ có tính cách ngụ ngôn kiểu tục ngữ ‘Một giọt máu đào hơn ao nước lã’ hoặc Quốc Văn Giáo Khoa Thư ‘Bó Đũa’. Sau này biết ra Vũ Hạnh đã hoạt động cho phía bên kia, tôi thấy tội nghiệp cho ông ta vì chính truyện ngắn này đã có thể dùng để chỉ trích, phê phán cái chế độ mà ông ta đã chọn lựa để phục vụ. Riêng cô Tố Quyên, tôi có thể đoan chắc mục đích của cô là thuần túy văn học, và một trong những mục tiêu của cô là giúp chúng tôi định nghĩa và phân tích hai chữ hy vọng.

‘Hy vọng luôn luôn hướng về tương lai’, cô Tố Quyên giải thích, ‘hai anh em trong bài viết này hy vọng rằng họ sẽ tìm được kho vàng chôn giấu trong cái tháp Chàm cổ kính’. Tôi đưa tay lên phản đối. ‘Hy vọng không nhất thiết phải hướng về tương lai! Trước khi đi tìm vàng, hai người hy vọng đã có một kho tàng trong cái tháp Hời. Có vàng hay không có vàng trong cái tháp Hời là chuyện quá khứ. Do đó, trong trường hợp này, hy vọng đã hướng về quá khứ’. Đám học trò con trai, ngoại trừ thằng Thước, vỗ tay tán thành ầm ĩ. Hơi ngạc nhiên về cái lý luận… bá láp của tôi, cô Tố Quyên bắt cả lớp im lặng rồi giải thích rằng có vàng trong tháp Hời, đối với hai anh em trong câu chuyện là một niềm tin, không phải hy vọng. Với lối lý luận cù nhầy, lũ chúng tôi vẫn khăng khăng cho rằng hy vọng có tính cách… hai chiều, không phải một chiều như cô khẳng định. Không còn ‘hy vọng’ thuyết phục chúng tôi, cô Tố Quyên trong lúc ‘tuyệt vọng’ bèn… khóc. Sau này, trong cuộc đời ba chìm bảy nổi của mình, tôi cũng đã có dịp chứng kiến đàn bà khóc, có khi vì tôi, có khi vì tình địch của tôi, có khi vì một lý do nào khác, cũng có khi không vì một lý do nào hết. Nói chung đàn bà trông đẹp và dễ thương hơn khi họ khóc, nhưng tôi chưa thấy ai khóc… đẹp bằng cô Tố Quyên. Lúc đó bao nhiêu hùng tâm tráng chí của lũ chúng tôi xẹp xuống như bánh xe đạp cán đinh, nếu cô có bảo hy vọng nằm ở… hướng Tây chúng tôi cũng chịu nữa. Nhưng đã trễ. Cô khóc, rồi bỏ đi. Bỗng dưng tôi trở thành tên tội phạm hàng đầu. Đám học trò con gái nhìn tôi với những cặp mắt giận dữ. Thằng Thước từ mãi dưới cuối lớp chạy lên đòi ăn thua đủ với tôi, ngay những đứa mới cách đây mấy phút đã mạnh mẽ ủng hộ lập luận ‘hy vọng hai chiều’ cũng quay ra đả kích tôi dữ dội. Phần thì băn khoăn không biết rồi cô Tố Quyên có còn trở lại dạy chúng tôi nữa hay không, phần thì lo lắng vì bỗng dưng trở thành chính danh hung thủ, tôi buồn bã ngồi tẩn mẩn cột tóc của hai chị lớn ngồi bàn trên lại với nhau.

Cuối cùng rồi cô Tố Quyên cũng trở về, với một đạo binh. Cho đến giây phút đó, và ngay cả sau này trong cuộc đời đi học của mình, chưa bao giờ chúng tôi được chứng kiến một cuộc phô trương lực lượng quy mô như vậy. Ngoại trừ thầy Hiệu Trưởng, từ thầy Hiệu Phó, thầy Tổng Giám Thị, cho đến các thầy đang dạy lớp chúng tôi, và ngay cả các thầy dạy các lớp đệ nhị cấp, đều hiện diện. Lũ học trò nhìn nhau, mặt cắt không còn hạt máu. Trước mặt chúng tôi là cái tập hợp chọn lọc của ngành giáo dục quốc gia, lò đào tạo nhân tài và niềm kiêu hãnh của tỉnh Quảng Nam, người nào người nấy trông đằng đằng sát khí. Các thầy lần lượt lên phát biểu, nói cho đúng hơn, sỉ vả chúng tôi. Cô Tố Quyên là người phát biểu sau cùng. Cô không sỉ vả chúng tôi, cô chỉ nói nhẹ nhàng, ‘Cô hy vọng rằng từ nay về sau các em sẽ thảo luận các nghi vấn với cô một cách nghiêm chỉnh hơn’. Chúng tôi đều ghi nhận cái tín hiệu cô gởi, từ nay về sau, future tense, thì tương lai, hy vọng chỉ hướng về tương lai!

Chùa Cầu – Hội An

Cái biến cố đáng ghi nhớ đó rồi cũng qua đi, năm học thứ hai ở ngôi trường tỉnh lỵ rồi cũng qua đi. Trong những năm tháng còn lại ở phố Hội, tôi có thêm nhiều bạn bè, nhiều kỷ niệm. Vào mùa lũ lụt, tôi thường ra bờ sông để xem người ta kéo vó. Đôi khi tôi theo chủ nhà trọ xuống biển Cửa Đại, cái bãi biển hoang vắng với rừng phi lao xanh ngắt, để câu cá hồng cá hanh. Thỉnh thoảng tôi lại đạp xe qua chùa Cầu, chiếc xe nhảy lộc cộc trên những thanh gỗ lót đường. Hoặc ra xóm Mới -bây giờ chắc đã cũ lắm rồi- với những con đường lầm cát, nơi có nhà thằng Thước. Hắn vẫn chưa chịu cho tôi xem mấy bài thơ hắn làm cho cô Tố Quyên.

Năm thứ ba ở truờng Trần Quý Cáp đánh dấu những biến động lịch sử mà cái tuổi non nớt của tôi không đủ kiến thức để nhận định. Cuộc đảo chánh tháng mười một năm sáu mươi ba đối với tôi là cơ hội để được nghỉ học đi biểu tình, đón nguời hùng cách mạng Tôn Thất Đính, và những điều tuơng tự. Cũng trong thời gian đó, làng tôi càng ngày càng trở nên mất an ninh. Đã có những cuộc ám sát, khủng bố thực hiện bởi phía bên kia, những cuộc hành quân lùng sục của phía bên này. Đã có những lần về thăm nhà. giữa đêm khuya tôi giật mình thức giấc bởi tiếng đạn tầm xa gầm rú bay ngang qua nóc nhà hoặc tiếng súng vang rền từ phía bên kia sông.

Cơn lụt khủng khiếp năm sáu mươi bốn đẩy tôi lìa xa vĩnh viễn ngôi trường tỉnh lỵ. Nhà chúng tôi đã sập bởi cơn bão mấy tháng trước đó, những cây cột tre tạm bợ không chịu nổi giòng nước lũ, lại một lần nữa tan tành trong cơn Hồng Thủy. Cơn lụt vô tiền khoáng hậu kéo đến từ những dãy núi xa bên kia sông Cái, cày xới những sườn đồi, bật tung cây cối, ào ạt tràn xuống khu đồng bằng nghèo nàn của miền Trung, cuốn đi những bãi dâu xanh, những nong tầm vàng óng, những mái nhà tranh, những căn nhà ngói, những vườn cây trái, những mạng người. Cũng may là gia đình tôi đều được an toàn. Trong những ngày tháng kế tiếp, gia đình tôi sống qua ngày bằng lu bắp khô còn sót lại, những hạt bắp khô cứng, nhạt nhẽo cày xới cuống họng của bầy con đói khát và trái tim người mẹ đơn chiếc. Mẹ tôi quyết định đưa chúng tôi vào miền Nam tìm kế sinh nhai.

Chia tay với cái thành phố càng ngày càng trở nên quen thuộc không phải là chuyện dễ dàng. Tôi luyến tiếc nhìn hàng phượng vĩ với những chùm hoa đỏ nở muộn, những con sâu đo gớm ghiếc, cái quán nuớc nghèo nàn của bác gác trường. Tôi còn nhớ cái mùi khăm khẳm đặc biệt của những con ruốc làm mắm phơi trên những vỉ tre dọc lề đuờng, tô bún bò Huế có miếng thịt đùi thơm tho, những cây ‘sê-ri’ với chùm trái chín mọng trồng dọc con đuờng khu tôi ở trọ. Tôi còn nhớ mối tình con nít vụng dại với đứa em gái của thằng bạn cùng lớp, lá thư viết hai tháng chưa dám gởi đi, nụ hôn đầu tiên trên môi đứa con gái mười ba tuổi bởi thằng con trai mười bốn tuổi suớng tê người.

Rất lâu sau này tôi có một lần về thăm chốn cũ. Cái thành phố ngày xưa bỗng như nhỏ lại. Cỡi chiếc xe gắn máy mượn của đứa cháu, tôi dừng lại trước cổng trường. Những cây phượng ngày xưa vẫn còn đó, cằn cỗi hơn, thiếu vắng những chùm hoa rực rỡ. Có lẽ vì trái mùa, mà cũng có lẽ vì ‘nhân khứ tận’. Đám bạn học ngày xưa cũng đã tản lạc phương nào, những cái tên của dĩ vãng, thầy Hoàng Trung, thầy Kham, cô Tố Quyên, thằng Bạo, Phạm Dó, Vĩnh Hoành, Huỳnh Bá Thước, Tường Vi,… bỗng dưng nghe buồn như thơ Vũ Đình Liên. Cuộc viếng thăm Hội An của tôi rất ngắn ngủi. Trên đường về thăm làng cũ, tôi có dịp thấy lại ngôi tháp Chàm Bàng An. Vẫn sừng sững, vẫn rêu phong, nhưng cái âm u, bí ẩn đã không còn. Chỉ còn là một nhân chứng u sầu với tiếng thở dài phiền muộn mỗi khi ngọn gió đồng thổi qua đỉnh tháp dột nát.

Bây giờ là sáu giờ sáng. Tôi có thói quen dậy sớm, ngồi một mình ở chiếc bàn ăn nhỏ. Truớc mặt tôi là ly cà phê nóng với cái hương vị lai căng -cà phê bột của Mỹ và sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ- và điếu thuốc lá đầu ngày. Có lần tôi đọc một truyện ngắn, hình như của Võ Phiến, về ngọn đèn vàng ở một góc cầu thang nào đó đã nhắc nhở tác giả về ánh đèn vàng ở một nơi chốn khác trong quá khứ. Ngọn đèn đã như chiếc chìa khóa thần diệu mở ra một ngăn kéo của ký ức, ở đó tác giả tìm thấy lại hình ảnh của nguời tình chìm khuất. Còn tôi? Chìa khóa nào đã mở ra cho tôi tuổi hoa niên, ngôi tháp Chàm đổ nát, mái trường thân yêu, những cái tên đã tưởng không bao giờ còn nhớ nỗi, nụ hôn đầu sướng tê người, chùm hoa phượng đỏ rực, và những con sâu đo gớm ghiếc? Tôi không biết. Tôi chỉ biết cám ơn cái quyền lực huyền nhiệm nào đó đã cho tôi khả năng sống lại những kỷ niệm xa xưa.

Tôi mong một ngày nào đó được gặp lại Thước để xin hắn tập thơ hắn làm cho cô Tố Quyên vào năm mười hai tuổi, nếu hắn còn sống và còn giữ tập thơ. Tôi cũng rất mong gặp lại cô Tố Quyên để hỏi cô một lần nữa ‘Phải chăng hy vọng chỉ hướng về tương lai?’ Nếu phải thì buồn quá, bởi vì chẳng lẽ những ngăn kéo ký ức tôi mở ra cùng với ly cà phê lai căng và điếu thuốc lá đầu ngày chỉ chứa có mỗi một niềm tuyệt vọng thôi sao?

Phùng Nguyễn
Tháng 12/94
Nguồn: Da Màu

Share this:



Khi nào tiền mặt sẽ thành 'vàng mã'?

Rose Eveleth
6 tháng 11 2015
Image copyrightGetty

Một ngày hè nóng nực vào năm 2025. Bạn sắp xong một buổi họp dài. Một vài đồng nghiệp dự họp từ nhà riêng; họ được chiếu hình ảnh ba chiều gương mặt, dáng người lên chiếc ghế tại bàn họp.

Bởi bạn tới văn phòng, bạn được đãi những món ăn nhẹ rất ngon, như bánh mỳ với xúc xích thái lát mỏng, và nho tươi.

Sau đó, bạn bước ra ngoài hít thở khí trời và uống một chút cà phê. Trên đường, xe cộ đang tự lái. Một số người có võng mạc ghép được kết nối với Internet vừa bước đi vừa xem các thông tin chứng khoán.

Bạn gọi một cốc cà phê sữa đậu nành – loại sữa duy nhất mà mọi người vẫn còn đủ khả năng tài chính để mua sau sự sụp đổ của ngành công nghiệp sữa. Bạn thò tay vào ví lấy ra một số tờ tiền gấp lại và hơi bị nhăn nhúm ở ngoài rìa, vuốt chúng cho thẳng lại rồi nhét vào khe nhận tiền của robot phục vụ cà phê.

Khoan đã. Tiền bị nhăn là sao? Chẳng phải là sẽ không còn ai dùng tiền mặt trong vòng 10 năm nữa đấy chứ?
Lý do cần tiền mặt

Không hẳn vậy.

Người ta đã nói về ngày tàn của tiền mặt từ gần 60 năm nay rồi. Với sự ra đời của thẻ tín dụng, các hình thức thanh toán contactless (không cần chạm trực tiếp vào thẻ) và tiền mã hóa như Bitcoin thì hồi chuông báo tử của tiền giấy trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Có thể không lâu nữa tiền giấy sẽ trở thành quá khứ.

Nhưng nếu chúng ta xem xét kỹ hơn các bằng chứng và mối quan hệ tâm lý thú vị giữa con người và tiền mặt thì bạn sẽ nhận ra rằng còn hơi sớm để dự đoán rằng tiền mặt sẽ biến mất.

Tiền mặt đã tồn tại cùng với loài người trong hàng ngàn năm qua là có lý do của nó.Image copyrightGetty

Tiền mặt thì không thể truy ra được nguồn gốc, dễ mang theo, được chấp nhận rộng rãi và đáng tin cậy.

Nếu mất điện hay xảy ra sự cố gì đó trong hệ thống điện tử khiến cho giao dịch qua mạng phải chuyển hướng thì vẫn còn có tiền mặt.

Nếu có ai đó muốn mua thứ gì mà không bị ai truy ra mình thì tiền mặt là phương thức thanh toán an toàn.

Nếu ai đó muốn chắc rằng khoản thanh toán của họ sẽ được chấp nhận thì tiền mặt là cách tốt nhất.

Ngay cả khi công nghệ đã tiến bộ thì một số đặc tính của tiền mặt vẫn không thể nào tạo ra được.

Đơn giản là vì không có phương thức thanh toán thay thế nào lại tiện lợi, đáng tin cậy và kín đáo, ẩn danh như vậy.

Bitcoin cũng là một hình thức thanh toán phi danh tính nhưng hiện nay lại không ổn định và không thuận tiện.

Thẻ tín dụng và thẻ debit được chấp nhận rộng rãi nhưng ngay lập tức bạn mua gì thì hệ thống sẽ biết ngay. Các hình thức thanh toán như Paypal hay Venmo cần phải có tài khoản và vẫn có thể truy ra dễ dàng.

Rồi còn vấn đề về uy tín toàn cầu nữa. Chẳng hạn như trường hợp đồng đô la Mỹ, tờ tiền giấy này có giá trị vượt biên giới Hoa Kỳ; hai phần ba lượng tích trữ đô la Mỹ là ở bên ngoài nước Mỹ. Mọi người giữ tiền phòng trường hợp khẩn cấp để đảm bảo rằng cho dù có việc gì xảy ra thì họ vẫn có cọc tiền để sẵn.
Vẫn rất phổ biến

Công nghệ đang tìm cách tạo ra một hệ thống có toàn bộ các đặc điểm của tiền mặt, tuy nhiên đến nay vẫn chưa thành công.

Đó là lý do tại sao khi chúng ta nhìn vào các số liệu thống kê về thanh toán tiền mặt trên thế giới thì tiền giấy và tiền xu vẫn được sử dụng phổ biến.

Khó mà đưa ra một con số có bao nhiêu tiền mặt được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày trên khắp thế giới.Image copyrightGetty

Một trong những đặc tính then chốt của tiền mặt là khó truy ra được. Tuy nhiên vẫn có dữ liệu giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát.

Cách đầu tiên để ước đoán lượng tiền mặt sử dụng và tính xem có bao nhiêu tiền mặt đang lưu thông.

Cách này sẽ cho chúng ta thấy rằng tiền mặt còn lâu mới biến mất.

Ở Mỹ, lượng tiền mặt lưu thông tăng 42% trong khoảng thời gian từ 2007 cho đến 2012 và lượng đô la Mỹ lưu thông trên thị trường được dự đoán sẽ tăng thêm 5% mỗi năm.

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trên toàn thế giới là 7%, theo Eric Ziegler, Chủ tịch Tập đoàn Công nghệ An ninh thuộc Crane Currency vốn chuyên sản xuất tiền giấy, cho biết.

Tuy nhiên, những con số này lại không đồng nhất với việc có bao nhiêu tiền mặt thật sự đang được trao tay trong các giao dịch hàng ngày.

“Không ai có cách đi vào nền kinh tế và tính toán xem có bao nhiêu tiền mặt đang được sử dụng và giá trị của chúng,” ông Daniel Wilson, một kinh tế gia tại Ngân hàng dự trữ Liên bang San Francisco, nói. “Chúng ta không biết chính xác có bao nhiêu giao dịch tiền mặt đang xảy ra vào một ngày nhất định.”

Để hiểu được dòng tiền luân chuyển ra sao, các nhà kinh tế đã tạo ra các mô hình và tiến hành các cuộc khảo sát.

Chẳng hạn như ở Hà Lan, kinh tế gia Nicole Jonker và nhóm của bà tại Ngân hàng Quốc gia đã tiến hành một nghiên cứu gọi là nghiên cứu nhật ký.Image copyrightiStock

Họ yêu cầu những người tham gia nghiên cứu ghi lại chi tiết các khoản chi tiêu hay nhận được trong ngày bằng cả hình thức tiền mặt và không phải tiền mặt.

Từ đó, Jonker và các cộng sự đã phác thảo ra bức tranh về cách người dân Hà Lan mua sắm hàng hóa.
Các nước phương Tây

Hà Lan là một trường hợp thú vị để nghiên cứu về các hình thức thanh toán, bởi ngành bán lẻ nước này gần đây đã cổ suý mạnh cho việc thanh toán bằng thẻ.

Hiện nay có đến 1.400 siêu thị ở đất nước này không chấp nhận tiền mặt nữa. Do đó, tỷ lệ thanh toán bằng thẻ ở Hà Lan đã tăng khoảng 8% mỗi năm trong vòng vài năm qua. Ấy vậy mà, tiền mặt vẫn là vua.

Hồi năm 2012, số lượt thanh toán bằng thẻ là 2,7 tỷ trong lúc ước tính có đến 3,5 cho đến 4 tỷ lượt thanh toán bằng tiền mặt.

“Ngay cả ở những siêu thị vốn chấp nhận tất cả các loại thẻ debit thì tiền mặt vẫn còn được sử dụng rất nhiều,” Jonker cho biết. “Vào lúc này chúng tôi nghĩ rằng tiền mặt vẫn tiếp tục có vai trò quan trọng.”

Các nghiên cứu ở các quốc gia khác cũng cho kết quả tương tự.

Ở Anh, phân nửa các giao dịch của khách hàng hồi năm 2013 là bằng tiền mặt, theo một báo cáo của Hội đồng Thanh toán Anh quốc. “Dự đoán là con số này sẽ giảm xuống dưới 50% vào năm 2016 nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy là tiền mặt sẽ biến mất,” báo cáo viết.

Một nghiên cứu tập hợp các khảo sát giống như của kinh tế gia Jonker ở nhiều nước trên thế giới cho thấy ở bảy quốc gia bao gồm Úc, Áo, Canada, Pháp, Đức, Hà Lan và Hoa Kỳ, có từ 46 cho đến 82% trong tổng số các giao dịch hồi năm 2012 là bằng tiền mặt.

Ngay cả ở những nước vốn thường được cho là những nước tiên phong trong việc thanh toán không cần tiền mặt như Thụy Điển và Đan Mạch thì tiền giấy và tiền xu vẫn không thật sự biến mất.

Hồi tháng Sáu 2015, trên báo chí có nhiều dòng tít như Đan Mạch sẽ không còn dùng tiền mặt vào năm 2016. Còn lâu mới có chuyện đó, ông Rene Thomsen, một quản lý tại Hiệp hội các Ngân hàng Đan Mạch, nói.Image copyrightGetty

“Tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu chúng tôi không dùng tiền mặt nữa trong vòng từ 10 đến 15 năm tới,” ông nói. “Thật khó mà tưởng tượng ra rằng trong vòng từ 10 đến 15 năm nữa bạn sẽ không thể đến ngân hàng và nói rằng tôi muốn rút 1.000 đô la bằng tiền mặt.”
Mối quan hệ kỳ lạ

Có lẽ tiền mặt có một sức mạnh gì đó trong mối quan hệ giữa con người với nó. Mọi người xem trọng tiền mặt theo cách khác với tiền điện tử dù cả hai đều có giá trị y như nhau.

Nhà tâm lý học Eric Uhlmann thuộc Trường Quản lý Paris đã thực hiện một số nghiên cứu về việc con người suy nghĩ khác nhau như thế nào về các dạng tiền khác nhau.

“Tôi quan tâm đến trực giác và sự bất hợp lý trong suy nghĩ của con người,” ông nói. “Có cảm giác phi lý là nếu tiền sờ nắm được thì cũng có nghĩa là số tiền đó là của bạn nhiều hơn và bạn sẽ có cảm giác rằng bạn sở hữu nó nhiều hơn.”

Uhlmann đã thí nghiệm bằng cách đưa ra các kịch bản khác nhau cho những người tham gia.

Họ được kể một câu chuyện về Ted và Donna như sau: 40 năm trước, cụ cố của Ted đã trộm 1.000 đô la số tiền của cụ cố Donna. Về sau Ted được thừa hưởng món tiền này. Một kịch bản cho rằng Ted được thừa hưởng số tiền mặt – đó là xấp tiền trong một cái hộp mà cụ cố của anh ta để lại. Trong một kịch bản khác, cụ cố của Ted đã gửi số tiền trên vào trương mục mang tên anh. Khi Donna phát hiện ra rằng Ted đang giữ số tiền trên, cô đã đòi lại.

Những người tham gia được hỏi liệu Ted có nên trả lại tiền cho Donna hay không. Những người nghe phiên bản kể về Ted sở hữu tiền thật tỏ ra rõ rệt hơn trong việc muốn trả lời rằng anh ta phải trả tiền lại cho Donna trong khi những người nghe kể rằng tiền được giữ trong trương mục của Ted chứ không phải cất trong một cái hộp có khuynh hướng trả lời rằng Ted không giữ số tiền giống như đã bị đánh cắp và không hào hứng với việc muốn Ted trả lại số tiền đó.Image copyrightiStock

Kiểu suy nghĩ như thế này không chỉ xảy ra với số tiền trong hộp mà còn trong vấn đề trộm cắp và công lý. Một nhà nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng mọi người cảm thấy bớt tiêu cực hơn về việc trộm cắp không phải đồ vật thật so với trộm cắp đồ vật thật.
Khác biệt trong cảm nhận

“Nếu ngân hàng trừ tiền từ tài khoản của bạn thì bạn vẫn có cảm giác bị mất tiền,” Uhlman nói. Nhưng khi số tiền trong tài khoản và số tiền thật là như nhau thì có sự khác biệt rõ ràng về cái cách mà chúng ta cảm nhận giữa hai loại tiền này. “Điều này cho thấy điều gì đấy rất thú vị về suy nghĩ của con người,” ông nói.

Liệu điều này có nghĩa là chúng ta sẽ chống lại việc từ bỏ tiền mặt hoàn toàn hay không? Có một số bằng chứng cho thấy điều đó.

Ở Mỹ, việc vận động không dùng những đồng tiền xu có mệnh giá nhỏ nhất đã phản tác dụng, tuy trị giá những đồng xu đó ít hơn rất nhiều so với chi phí dùng để sản xuất ra chúng.

Ở Úc, cuộc thảo luận về việc từ bỏ đồng năm xu khiến phát sinh quan ngại về việc mất thu nhập của các quỹ từ thiện vốn nhận nhiều tiền lẻ cũng như phản ứng mạnh mẽ bởi người tiêu dùng lo là giá cả sẽ được làm tròn số, đắt lên.

Lịch sử cũng cho thấy rằng chúng ta có cảm giác an ninh và an toàn hơn về tiền mặt mà tiền ảo không thể bì được. Khi khủng hoảng tài chính nổ ra thì mọi người vẫn muốn có tiền mặt trong tay hơn là cất giữ trong tài khoản ngân hàng.

Có thể một số nước phát triển ở phương Tây như Mỹ lại gắn bó với tiền mặt hơn ở những nơi khác.

“Các nền văn hóa khác nhau có sự gắn bó khác nhau với đồng tiền của họ,” ông Nicolas Christin, một nhà nghiên cứu tại Đại học Carnegie Mellon, nói, “và ở Mỹ có sự gắn bó rất mạnh”.

Theo Christin thì điều này là do đồng đô la Mỹ tương đối ổn định trong khi các nước khác đều đã trải qua những giai đoạn bùng nổ rồi sụp đổ trong giá trị đồng tiền của họ. Điều này có thể đã làm cho người Mỹ gắn bó và tin tưởng về đồng tiền của họ hơn người dân ở các nước khác.
Nước đi tiên phong

Trong khi mọi người nói về tương lai của công nghệ vẫn tập trung vào Mỹ và châu Âu, thì một số những sáng tạo đáng chú ý nhất về phương tiện thanh toán lại không đến từ những nơi này.Image copyrightGettyImage captionLiệu sẽ đến lúc tiền mặt chỉ còn xuất hiện trong các viện bảo tàng?

Ở một số quốc gia đang phát triển, tiền mặt đang được nhanh chóng thay thế bằng phương thức thanh toán kỹ thuật số dựa trên điện thoại di động.

Trong khi ở Mỹ, bạn có thể vẫn cần phải dùng tiền mặt để mua một cốc cà phê vào năm 2025 thì ở Kenya mọi chuyện có thể hoàn toàn khác.

Vào năm 2007, người dân Kenya bắt đầu sử dụng một hệ thống thanh toán có tên gọi là M-Pesa và ngày nay nó đang được 17 triệu người dân nước này sử dụng, tức hơn hai phần ba số dân cư trưởng thành.

Người sử dụng nạp tiền vào tài khoản và chuyển tiền bằng cách gửi tin nhắn. Người nhận tin nhắn sẽ cầm điện thoại đến người bán hàng để nhận tiền. Không cần vai trò của ngân hàng.

“Kenya có công nghệ thanh toán di động tốt hơn bất kỳ nước nào khác,” ông Benjamin Mazzotta, một nhà nghiên cứu tại Đại học Tufts, nói.

“M-Pesa giờ đây được chấp nhận không chỉ cho những giao dịch lớn mà còn dùng để trả tiền cho các bữa ăn và chi trả học phí. Ngày nay bạn có thể làm được rất nhiều thứ với M-Pesa mà khoảng năm hay mười năm trước đây điều này có vẻ như là không tưởng.”

Tuy nhiên, ở những nơi như Hoa Kỳ và châu Âu thì hệ thống như M-Pesa sẽ cần có thời gian mới bắt kịp được về mặt kỹ thuật.

Hệ thống này thành công phần lớn là nhờ vào việc nó do Safaricon, mạng điện thoại di động lớn nhất Kenya tính đến thời điểm hiện tại, điều hành.

Tại các quốc gia khác, thị trường cạnh tranh mạnh mẽ hơn nhiều, với sự hoạt động của nhiều hãng điện thoại di động khác nhau, khiến cho việc phối hợp thực hiện các giao dịch sẽ trở nên khó khăn, bất tiện hơn.

Cũng nên lưu ý là M-Pesa là hệ thống nhằm lưu chuyển tiền mặt tới các nơi chứ không nhằm loại bỏ tiền mặt. Người dùng vẫn phải đưa tiền mặt cho các cửa hàng có dịch vụ M-Pesa để nạp tiền vào tài khoản và tới đó rút các khoản tiền mà người khác thanh toán cho mình.

Bản tiếng Anh bài này đã đăng trên BBC Future.

MỘT CUỐN SÁCH HAY


Lê Văn Nghệ
"Thú đọc sách" ( The Joy of Reading ) là tên gọi một tác phẩm của Charles van Doren in ra 2008 mới được Phan Quang Định dịch, Trần Đức Tài hiệu đính và giới thiệu, bản tiếng Việt có được do sự bảo trợ của nhà xuất bản Trẻ và Cty Thời đại .
Trong số những trường hợp độc đáo "Thú đọc sách" có nói tới, tôi đặc biệt lưu ý tới bài viết ở tr. 463 nói về "Triệu năm sắp đến" của Charles Galton Darwin (1887- 1962), ông này là cháu nội của nhà sinh học Charles Darwin( 1809- 1882) mà mọi học sinh trung học trên thế giới này đều biết.
Từ chỗ nêu lên câu hỏi PHẢI CHĂNG CON NGƯỜI LÀ MỘT ĐỘNG VẬT HOANG DÃ, C.G.Darwin nêu lên một giả thiết: con người luôn luôn rơi vào thảm họa là tiêu diệt chính mình và do đó họ chỉ có một tương lai ảm đạm.
Điều chắc chắn hơn là tương lai con người không thể được đặc trưng bởi sự hoàn thiện liên tục. 
Thỉnh thoảng trên cái nền của bức tranh ảm đạm cũng có những tia sáng rực rỡ bất ngờ, nhưng sự tối tăm chỉ được gảm bớt chứ không phải là sự triệt tiêu. 
Đây có lẽ là điều ông tác giả này muốn trả lời thẳng cho những con người đầy tin tưởng ở tương lai như những người mới bước ra làm quen với thế giới là người Việt chúng ta. 
“Nhiều khu vực của thế giới sẽ trở thành những miền đất với khuôn khổ diện tích luôn thay đổi và suốt một thời gian dài sống trong cảnh kình địch chống đối nhau. Thỉnh thoảng, các địa phương này được hợp nhất bởi một cánh tay mạnh mẽ nào đấy, làm nên một liên minh giả tạo. Liên minh này – dưới đủ các tên khác nhau – sẽ tồn tại một thời gian rồi quy luật thoái hóa đã từng hủy hoại mọi triều đại sẽ tác động, và đưa các liên minh phi tự nhiên đó tới cảnh sụp đổ. Sẽ có những miền đất nào đó rơi vào tình trạng man rợ. Nhưng ngay ở đấy nền văn minh vẫn sống sót. Chỉ có sự tác động của văn minh dựa trên sự phát triển trí tuệ được tích lũy nhiều đời mới đủ sức giúp cho các xứ sở -- thực chất chỉ là những đám đông tập hợp lộn xộn kia – tiếp tục tồn tại, như trước đó nó đã tồn tại". 
Phải chăng tinh thần nói ở đoạn văn này, không chỉ đúng với cả thế giới cả miền Trung Đông và Đông Á, mà còn đúng riêng với VN chúng ta? Tôi tự hỏi mà thấy sờ sợ.

VĂN CHƯƠNG TRƯỚC TIÊN LÀ CHUYỆN TRI THỨC
Dưới đây là những cảm tưởng riêng của tôi đối với cuốn "Thú đọc sách".
Ngành xuất bản ở các nước tiên tiến thời nay cho in rất nhiều cuốn sách tóm tắt các tác phẩm lớn.
Không phải chỉ để cho những người vội mà chất lượng vớ vẩn! 
Không, nhiều cuốn do những người rất giỏi làm.
Lại có những loại tổng hợp các sách hay. 
Tạm kể một ví dụ, cuốn "Những tác phẩm lớn trong văn chương thế giới" do Vũ Dzũng biên soạn đã in ở Sài Gòn từ trước 1975, tới 1990 lại được nhà xuất bản Đà Nẵng cho in lại với việc hiệu đính và lời giới thiệu của Lê Ngọc Trà.
Biết vậy, nhưng ở ta loại sách này hiếm được in ra lắm. 
Ở Hà Nội có một dạo bọn nhà văn trẻ chúng tôi được khuyên, không bao giờ nên đọc các loại sách đó. Phải đọc nguyên bản cơ, chứ không thể là trí thức lược thuật được!-- những ông nhà văn lớp trước muốn trêu ngươi chúng tôi bảo vậy.
Có điều, ngoại ngữ không biết, bản dịch không có, lại đang hoàn cảnh chiến tranh, cấm nhập tác phẩm nước ngoài lấy gì mà đọc? 
Vả chăng là xã hội lúc nào cũng chỉ yêu cầu chúng tôi đi và viết, viết nhanh lên để rồi đi tiếp và viết tiếp. 
Chúng tôi đâu có định trở thành nhà văn, những trí thức theo đúng nghĩa xưa nay vẫn hiểu. 
Chúng tôi chỉ cần sự công nhận của đương thời.
Biết thế, nhưng lúc tĩnh tâm trở lại, chúng tôi vẫn đau đớn vì đọc ít quá. Giữa bao nhiêu bận bịu, các cuốn sách còn ấn tượng chỉ là lẻ tẻ như mấy hòn sỏi rơi trên mặt giếng.
Nay tuổi già đã đến. Nhu cầu kiểm điểm lại đời mình nảy sinh. Có nhiều cuốn cổ điển cần đọc lại. "Thú đọc sách" ( The Joy of Reading ) với tôi như một thứ cầu được ước thấy. 
Nó đáp ứng cả hai yêu cầu của tôi, vừa điểm qua những tác phẩm cổ điển đã liệt hạng tức ai cũng biết, vừa đưa ra nhiều đầu sách mới mà ở VN, do những hạn chế của việc tiếp xúc, nên ít người biết. 
“Trong tầm nhìn bao quát của tác giả, văn chương là một khái niệm hàm chứa cả tri thức”. Khi viết như vậy trong lời giới thiệu, bạn Trần Đức Tài thật đã thấu hiểu một căn bệnh lâu năm của người đọc VN và cả nhiều nhà văn VN.
Lâu nay nói tới sách, nhiều người chỉ nghĩ đến thứ văn chương hình tượng, các bài thơ các cuốn tiểu thuyết giỏi về miêu tả và trần thuật.
Nay nhìn vào danh mục được nêu lên trong "Thú đọc sách" thấy loại sách mang đến cho chúng ta tri thức cũng từng chiếm trọn tâm trí nhiều bậc tài danh trên thế giới và từng mang lại cho khái niệm sách một ý nghĩa nhận thức -- nó mới là cái cần thiết nhất với con người.

Đã có nhiều bài giới thiệu về cuốn này trên các báo, chẳng hạn các bạn có thể tìm

NƯỚC… KHÔNG CHỊU PHÁT TRIỂN!”


Chỉ có hai điều là vô hạn: vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người
Nguyễn Châu· 

CÓ BAO GIỜ BẠN TỰ HỎI VÌ SAO VIỆT NAM MÃI KHÔNG PHÁT TRIỂN?

“Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: NƯỚC… KHÔNG CHỊU PHÁT TRIỂN!”. Đó là lời “nói đùa” mà rất đau của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới được chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan thuật lại với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước về Đà Nẵng dự hội nghị.

Theo thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF: GDP bình quân đầu người năm 2014 của Việt Nam là 2,051.17USD/năm, chỉ gần bằng 1/3 ở Thái Lan là 5,896.36USD/năm và 1/5 Malaysia là 11,049.28USD/năm, nhưng mỗi người dân Việt Nam lại gánh chịu tỷ lệ thuế phí/GDP cao gấp từ 1,4 đến 3 lần so với các nước khác trong khu vực.

TIỀN THUẾ PHÍ CHẠY ĐI ĐÂU?

Báo cáo của World Bank cho thấy, trong nhiều năm liền số giờ trung bình cho một doanh nghiệp nộp hồ sơ thuế và đóng được thuế là 872 giờ, gấp hơn 10 lần so với Singapore, gấp 2,5 lần so với Lào và hơn 5 lần so với Campuchia. Khi thuế, phí tăng cao, doanh nghiệp phải tăng giá sản phẩm để có lãi và xét cho cùng thì người dân lại là đối tượng cuối cùng đang đưa vai ra gánh gánh nặng này

Xét về mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp, hiện trình độ sản xuất của Việt Nam được WEF xếp sau cả Lào và Campuchia, chỉ cao hơn Myanmar.

Việt Nam còn xếp sau Lào về chỉ số năng suất sáng tạo. Chúng ta đi sau Campuchia về công nghiệp ô tô, thậm chí những lĩnh vực nông nghiệp có thế mạnh như lúa gạo cũng không hơn được họ. Campuchia đã tự chế đươc ô tô điều khiển bằng smartphone giá 100 triệu đồng, trong khi năng lực của Việt Nam bị đánh giá là …không làm nổi một cái ốc vít!

Ông Lý Quang Diệu, cố Thủ Tướng Singapore từng nhận xét rằng “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực”.

Nhiều người thường đổ lỗi cho khủng hoảng kinh tế, rủi ro xảy ra trên thế giới, chiến tranh… để biện minh cho sự tụt hậu và mất mát của mình. Thực tế, Việt Nam có quá nhiều thuận lợi nhưng không biết tận dụng, thậm chí còn tạo ra cơ chế làm khó cho chính mình, kiềm hãm sự phát triển. Từ bài học Singapore, Hàn Quốc, Nhật, Israel… đã chỉ ra rằng con người, chất xám, sự sáng tạo, thể chế hợp lý là những yếu tố đáng quý nhất của một quốc gia chứ không phải là tài nguyên thiên thiên.

Tôi nhận thấy nguyên nhân quan trọng nhất là phía nhà nước, chẳng hạn lấy một ví dụ đơn giản là thủ tục đăng kí giấy phép để nhập một loại hàng hóa về để doanh nghiệp kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn ("đòi đủ thứ khó hiểu"). Trong khi đó sản phẩm có cả chứng chỉ CE & FDA đàng hoàng, bên Singapore đăng kí là người ta cho ngay. Đến khi qua Việt Nam thì lại rất khó khăn, xin một cái giấy phép mà 1 năm vẫn chưa xong. Vậy thử hỏi doanh nghiệp phát triển kiểu gì?

Trong khi đó một số sản phẩm chất lượng kém, được chứng minh là có thể gây ung thư thì lại rất dễ dàng. Khi doanh nghiệp hỏi tại sao lại như vậy? Họ không trả lời được, chỉ nói là nhà nước quy định như vậy!

Tương lai Việt Nam nói chung và nền kinh tế nói riêng có thể vươn lên không, hay tiếp tục thua xa các nước là một câu hỏi khó trả lời.

Nhưng có một điều chắc chắn: Nếu Việt Nam tiếp tục dựa vào việc đào tài nguyên lên bán, dựa vào lao động giá rẻ, đào tạo yếu, hiệu quả đầu tư thấp hoặc đầu cơ mới có thể làm giàu mà không tạo nền móng cho sự sáng tạo thì câu trả lời đã có sẵn.

Điều này lý giải vì sao, thế giới đánh giá thấp Việt Nam về mặt chất lượng con người, khi chúng ta thiếu cơ chế chính sách khuyến khích, tạo động lực cho mọi người sáng tạo, phát huy hết tiềm năng của mình. Trong khi “đầu ra của tất cả các đầu tư không phải là con người tử tế, con người có trình độ thì chúng ta không có tương lai như tương lai cần có của con người”.

Cha con ông Trần Quốc Hải – nông dân ở Tây Ninh đã sang Campuchia sửa chữa, chế tạo thành công xe bọc thép cho nước này và được trao tặng Huân chương vương quốc Campuchia. Ông nói: “Nếu cơ chế cho phép hỗ trợ ở mức như Chính phủ Campuchia thì chắc chắn người dân có thể sáng tạo ngay trên quê hương mình”. Nông dân này từng nói: “Làm khoa học ở Việt Nam buồn, buồn lắm”.

Friday, 27 November 2015

lần này lên núi tôi mang theo cả dấu vết của những giấc mơ chưa tròn



lần này lên núi tôi mang theo cả dấu vết của những giấc mơ chưa tròn
mái tóc thơm mùi hoa bươi và giọng nói hiền như mây mùa thu của em
cái lấp lánh của lá rừng buổi sớm mai có làm cho tôi thấy vui hơn một chút so với lúc mới bắt đầu có ý nghĩ lên núi

những chuyến đi bao giờ cũng để lại cho tôi một chút nghi ngờ về thế giới
ngay cả khi sắp bước lên con đường vào núi tôi đã cảm thấy có gì không ổn trong nghĩ ngợi của mình
tôi lại lên núi Cô Quạnh như để tìm kiếm một thứ gì đó để bù vào giấc mơ chưa tròn của mình
từ nấm mộ hoang gần đó bước ra một vị khách thông thái và nhân từ
ông khách mỉm cười nhìn tôi từ đầu đến chân
chớ hỏi ta từ đâu đến bỡi chuyện ấy chẳng quan trọng chút nào trong cuộc phiêu lưu của tồn tại
tôi nói chắc là tiền bối mới từ chốn ngàn năm trở lại
tôi nói như thể để bớt niềm bối rối
nhưng ông khách xua tay bảo
và bắt đầu giảng về thời gian



tự thuở con người bắt đầu nhìn thấy hình ảnh mình trong những cơn gió mùa thu làm rơi rụng những chiếc lá trên cây, cho đến lúc đã chấm dứt những cuộc cuộc săn đuổi phiêu lưu trên rừng, vào những buổi chiều hôm có ngọn khói bếp tỏa nơi mái tranhcon người vẫn cứ thấy nhớ nhung buổi hồng hoang bầy đàn vây quanh đống lửa đun ở giữa núi, cho đến lúc con người đã đứng dưới ánh mặt trời đương đại, thì hết thảy những yêu thương, căm thù, sợ hãi, điên giận, thứ hành trang vĩ đại trong cuộc tiến hóa của loài giống ấy bỗng trở nên một thứ thời gian khác làm nảy sinh những ngọn lửa tham tàn thiêu rụi bao nhiêu vẻ đẹp của cuộc thăng hoa của loài giống, ta đang cố sửa sang lại thứ thời khắc sai lệch ấy, nhưng vẫn mãi loay hoay trong sự nghiệt ngã của chúng…

đất dưới chân tôi như đang sụt

và cây rừng như đang chếnh choáng

lời ông khách làm tôi vui sướng đến nỗi chẳng còn biết là ông ấy đã ra đi bằng cách nào

tôi lên nằm ở gọp đá Voi Nằm ngủ suốt một ngày

trong giấc ngủ ứa niềm vui sướng tôi chỉ mơ thấy mỗi chuyện ngắn ngủi là ai đó đã đến nói là tôi đang có cuộc hẹn

đêm tôi ngủ lại núi

tôi có hơi hốt hoảng vì kẻ đến gõ vào chân lúc tôi đang lơ mơ ngủ

là một nữ thần xinh đẹp

mấy nghìn năm qua em vẫn ôm lấy niềm cô quạnh ở ngọn núi này

nàng nói không rời mắt khỏi tôi

giọng nói vị nữ thần của núi sao lại rất giống với giọng nói hiền như mây mùa thu của em

tôi nói là mình cũng đang sống trong niềm cô quạnh

tôi nói và cố dấu niềm xúc động

cô gái liền nắm lấy tay tôi

giờ thì chẳng còn ai cô quạnh

cô gái nói

và dắt tay tôi đi dưới trăng tháng giêng như dắt tay một em bé bước vào cuộc tình vĩ đại đang diễn ra dưới chân núi Cô Quạnh



tôi thức dậy trên gọp đá Voi Nằm

và thấy nhớ em vô cùng

Monday, 23 November 2015

Đà Lạt ngày xưa

Đà Lạt nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng và quyến rũ e ấp giữa bạt ngàn rừng thông xanh mướt. Nơi đây đã từng là nơi nghỉ dưỡng của các bậc vua chúa thời xưa và bây giờ phát triển thành một thành phố nổi tiếng và du lịch và nghỉ dưỡng

Người có công khám phá và khai sinh ra vùng đất này chính là bác sĩ Yersin, ông được ghi nhận đã có công thám hiểm cao nguyên Lang Bian và khai sinh ra đô thị Đà Lạt ngày nay.

Đà Lạt ngày ấy và bây giờ nhìn chung hầu như không thay đổi nhiều, vẫn e ấp, vẫn quyến rũ, vấn níu kéo người đi ở lại. Có chăng đi nữa chỉ là một Đà Lạt đẹp hơn, tráng lệ hơn, lộng lẫy hơn mà thôi.

Đà Lạt có lẽ nổi tiếng với hai điều: một là thành phố hoa lệ với dinh thự sang trọng, những khách sạn Đà Lạt đẳng cấp tồn tại cả thế kỷ vẫn giữ nét cổ kính xen lẫn hiện đại đan xen, những rừng thông bạt ngàn xanh ngắt. Hai là những cô gái Đà Lạt đẹp dịu dàng, đắm thắm nhưng kiêu sa, mang dòng máu lai quý tộc Việt và Pháp.

Nếu nhìn lại Đà Lạt những năm 1925, 1930,...bạn sẽ thấy Đà Lạt đã trải qua một quá trình khai phá thế nào. Sau đây là trên 100 bức ảnh quý giá về Đà Lạt ngày xưa do những nhiếp ảnh gia Pháp và một số nhiếp ảnh khác ghi nhận lại và lưu giữ đến ngày hôm nay.



1. Bản đồ Đà Lạt ngày xưa - được mệnh danh là thiên đường nơi hạ giới


2. Ảnh chụp Đà Lạt năm 1925 - 1930 



3. Người bản xứ và xe hơi chụp ở Lang Bian năm 1925



4. Thác Liên Khương những năm ngày xưa


5. Thác Ponggour Đà Lạt 


6. Thác Cam Ly Đà Lạt (1925 - 1930)


7. Thác Gougah đổ từ trên cao xuống


8. Người Pháp và dân bản địa trên đỉnh LangBian 


9. Quang cảnh khu vực hồ Xuân Hương ngày trước và khách sạn Palace Đà Lạt


10. Một góc thành phố Đà Lạt ngày ấy còn hoang sơ


11. Một khách sạn Đà Lạt


12. Toàn cảnh thành phố Đà Lạt chụp từ trên núi.


13. Hồ Xuân Hương ngày ấy còn hoang sơ chưa khai thác triệt để như bây giờ


14. Một phần Hồ Xuân Hương, sau này sẽ mọc lên những sân Gôn, những hàng rào vây quanh.


15. Hotel Palace ngày xưa đã lộng lẫy nguy nga mang dáng dấp cung điện Pháp


Palace Hotel Đà Lạt hiện nay trải qua 80 năm lịch sử vẫn giữ nguyên vẹn hình hài ngày trước