Saturday, 30 August 2014

Kích thích não bằng dòng điện tăng cường trí nhớ

Kích thích não bằng dòng điện tăng cường trí nhớ: có thể giúp điều trị các bệnh rối loạn trí nhớ như đột quỵ, giai đoạn đầu bệnh Alzheimer, các chấn thương não.


Kích thích vùng não đặc biệt  băng dòng điện sử dụng xung điện từ.
Các nhà khoa học thuộc đại học Northwestern đã nghiên cứu thành công phương pháp: Kích thích một vùng đặc biệt trong não bằng cách chuyển một dòng điện không xâm lấn sử dụng xung điện từ, gọi là Transcranial Magnetic Stimulation (TMS) để tăng cường trí nhớ. Khám phá này mở ra một lĩnh vực mới gúp điều trị các chứng giảm trí nhớ gây ra bởi các nguyên nhân như đột quỵ , thời kỳ đầu của bệnh Alzheimer, các chấn thương gây tổn thương não, ngừng tim và các vấn đề về trí nhớ do sự lão hóa.

"Chúng tôi cho các bạn thấy lần đầu tiên có thể thay đổi hoạt động trí nhớ của bộ não người lớn mà không cần phẫu thuật hay sử dụng thuốc, những phương pháp mà chưa thực sự hiệu quả", tác giả cấp cao của nhóm nghiên cứu, phó giáo sư khoa học xã hội y tế Joel Voss thuộc Đại học Northewestern Feinberg School of Medicine cho biết. "Phương pháp kích kích không xâm lấn này cải thiện khả năng học hỏi những thứ mới. Nó có tiềm năng vô cùng lớn để điều trị rối loạn bộ nhớ".

Video: 

Đây cũng là nghiên cứu đầu tiên chứng minh được các trường hợp ghi nhớ yêu cầu nhiều vùng của bộ não làm việc nhịp nhàng cùng nhau trong mọt vùng cấu trúc bộ nhớ quan trọng gọi là hippocampus - tương tự như là một bản nhạc giao hưởng. Kích thích dòng điện giống như là đưa cho bộ não một người chỉ huy tài năng hơn giúp cho chúng có thể chơi bản nhạc đồng bộ hơn.

"Điều đó giống như chúng ta thay thế người chỉ huy bình thường bởi Muti,", Voss nói, Muti hay Riccardo Muti - giám đốc âm nhạc của Dàn nhạc giao hưởng nổi tiếng Chicago. "Các vùng của bộ não chơi hay hơn sau khi được kích thích".

Cách tiếp cận này cũng có tiềm năng để điều trị rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt , trong đó các khu vực não và hippocampus là không đồng bộ với nhau , ảnh hưởng đến trí nhớ và nhận thức.

TMS tăng cường trí nhớ

Nghiên cứu của Đại học Northwestern cũng là lần đầu tiên chứng mính được phương pháp TMS cải thiên trí nhơ lâu hơn sau điều trị. Trước kia, TMS được sử dụng rất giới hạn để thay đổi chức năng hoạt động tạm thời của bộ não được kích thích. Nghiên cứu chỉ ra rằng TMS có thể được sử dụng cải thiện trí nhớ cho các sự kiện ít nhất là 24 giờ sau khi được kích thích.

Tìm kiếm điểm mấu chốt

Không dễ gì để kích thích trực tiếp vùng hippocampus với TMS bởi nó quá sâu bên trong não cho xung điện từ truyền vào. Do đó, sử dụng một máy quét MRI, Voss và các đồng nghiệp đã xác định một vùng não bề mặt một cm chỉ từ bề mặt của hộp sọ có khả năng kết nối cao cho vùng hippocampus. Ông muốn nhìn thấy nếu trực tiếp kích thích vào điểm này sẽ kích thích vùng hippocampus. Nó đã hoạt động. 

"Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy rằng nó làm việc rất đặc biệt , " Voss cho biết .

Khi TMS được sử dụng để kích thích điểm này, các vùng trong bộ não liên quan tới hippocampus trởn nên động bộ hơn với nhau, khi dự liệu được đưa ra trong khi các đối tượng bên trong máy MRI dùng để ghi lưu lượng máy trong não như biện pháp gián tiếp đo hoạt động của thần kinh.

Nhiều vùng như nàu làm việc cùng nhau do sự kích thích, con người có thể học hỏi được thông tin mới dễ dàng hơn.

Nghiên cứu hoạt động thế nào

Các nhà khoa học tuyển chọn 16 người lớn khỏe mạnh từ 21 đến 40 tuổi. Mỗi người có một hình ảnh giải phẫu chi tiết ghi lại 10 phút hoạt động của bộ não trong khi họ nằm im bên trong máy quét MRI. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu xác định cấu trục mạng liên kết của bộ não liên quan đến trí nhớ các kết nối tốt với cùng hoppocampus. Các cấu trúc khác nhau rõ rệt giữa từng người và có thể khác nhay về vị trí khoảng vài cm.

"Để kích thích chính xác mục tiêu chúng tôi phải xác định được không gian cấu trúc não của mỗi người bởi mỗi người sẽ có bộ não khác nhau", Voss cho biết.

Mỗi người tham gia sau đó sẽ thực hiện bài kiểm tra trí nhớ, bao gồm một tập hợp sự kết hợp bất kỳ giữa các khuôn mặt và các từ mà họ được yêu cầu để học và ghi nhớ. Sau khi xác định được khả năng cơ bản của họ để thực hiện các nhiệm vụ ghi nhớ này, các ứng viên sẽ nhận được sự kích thích não khoảng 20 phút mỗi ngày sau 5 ngày liên tiếp.

Trong suốt một tuần họ sẽ được máy MRI quét và kiểm tra khả năng nhớ các từ và khuôn mặt được kết hợp vơi nhau mới để theo dõi sự thay đổi về khả năng ghi nhớ sau mỗi lần kích thích. Sau đó, ít nhất 24 giờ sau lần kích thích cuối cùng, họ lại được kiểm tra lại.

Ít nhất một tuần sau, cùng thí nghiệm được lặp lại nhưng với một kích thích giả. Thứ tự của kích thực thật và giả theo một tỉ lệ mà nghiên cứu đã đào ngược cho một nửa những người tham gia, và họ không được nói hay cho biết từ trước.

Cả hai nhóm đều thực hiện tốt hơn trong bài kiểm tra trí nhớ sau một lần kích thích não. Mất khoảng 3 ngày kích thích trước khi họ cải thiên tốt hơn.

"Họ ghi nhớ cặp từ-khuôn mặt nhiều hơn trước kia sau khi kích thích, điều này có nghĩa khả năng học hỏi được cải thiện." , Voss cho biết. "Điều đó không xảy ra với các điều kiện giả dược hoặc thí nghiệm điều khiển khác với những đối tượng bổ sung".

Thêm vào đó, MRI chỉ ra rằng kích thích tạo bởi các vùng nào trở nên đồng bộ hơn với nhau và với vùng hippocampus. Sự cải thiện tốt hơn trong các vùng đồng bộ hoặc kết nối giữa các vùng đặc biệt của mạng lưới, thực hiện tốt hơn trên các bài kiểm tra trí nhớ. "Nhiều vùng não nhất định hơn làm việc cùng nhau do sự kích thích, nhiều người hơn có thể học được cặp từ-khuôn mặt".

Tương lai

"Điều này mở ra cả một lĩnh vực mới để nghiên cứu điều tri nơi mà chúng ta cố gắng hiểu nếu chúng ta có thể cải thiên chức năng của con người, những người mà thực sự cần sự giúp đỡ" Voss phát biểu.

Nghiên cứu hiện tại của ông là với những người có trí nhớ bình thường, người mà hộ không thực sự mong đợi sự cải thiên đáng kể bởi não của họ đã hoạt động hiệu quả sẵn.

"Nhưng đối với người có rối loạn trí nhớ hay bị ảnh hưởng về não, liên kết này đã bị gián đoạn bởi thậm chí một sự thay đổi nhỏ có thể chuyển ngược lại với hoạt động của họ," ông cho biết.

Trong lần thử nghiệm tiếp theo, Voss sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của kích thích điện đối với những người trong giai đoạn đầu mất trí nhớ.

Voss cảnh báo phải mất hàng năm cần thiết để xác định liệu phương pháp này có an toàn và hiệu quả đối với những bệnh nhân Alzheimer hoặc những người có rồi loạn trí nhớ tương tự.

(Theo ScienDaily)

Sunday, 24 August 2014

Mối phát hiện nguy hiểm như thế nào?

Khi nói đến cảm nhận mối nguy hiểm, loài mối sử dụng đầu và chân của chúng. Loài côn trùng này có thể cho biết hướng nào để chạy thoát bằng cách sử dụng "bộ thời gian sinh học" chính xác, theo như một nghiên cứu mới của các nhà khoa học.

Mối sử dụng đầu để tạo ra rung động cảnh báo nguy hiểm
Loài mối châu Phi có thể xây tổ của chúng cao khoảng một mét hoặc hơn. Một trong số đó là Macrotermes natalensis, loại côn trùng này cư ngụ trong những cái hầm dưới mặt đất trải dài trên khu vực rộng lớn. Khi một loài động vật ăn thịt đến gõ cửa, như lợn đất chuyên ăn mối, lũ mối sẽ phát ra một hệ thống báo động tự nhiên.
Để cảnh báo, mối lính sẽ đập đầu chúng xuống nền của tầng hầm. Nó sẽ tạo ra rung động khoảng cách đến 130 m(430 feet) trên giây. Những con mối khác sẽ nhận được tín hiệu, chúng sẽ đập đầu như trước để truyền tiếp cảnh báo. Điều này sẽ báo cho mối thợ đi sâu vào trong tổ để mối lính sẵn sàng cho trận chiến.
Trong nghiên cứu này, Felix Hager và Wolfgang Kirchner hai nhà sinh vật học thuộc đại học Bochum của Đức đã tìm hiểu những con mối lính này sử dụng tín hiệu của chúng để tạo ra hướng nào để chạy thoát. Các tác giả đã đăng nghiên cứu mới của họ trên tạp chí Journal of Experimental Biology hôm 15 tháng 7.
Mối cảm nhận rung động cảnh báo bằng cả sáu chân của chúng. Chúng sẽ cảm nhận được nguồn phát bằng chân gần nhất với nguồn và cuối cùng là chân xa nhất. Có một thời gian trễ phân chia giữa hai thời điểm này. Hager và Kirchner muốn biết được đỗ trễ và chính xác như thế nào.
Họ đặt những con mối lính vào một khoang nhựa với một khoảng trống ở giữa đủ rộng để trượt một đồng xu qua. Một con mối đứng với các chân phải một bên và các chân trái ở bên kia, các nhà khoa học tạo ra một rung động. Nó kích thích từ một phía bên này trước khi truyền sang phía bên kia. Mối lính quay hoặc chạy về phía nơi chúng cảm nhận rung động đầu tiên.
Sau khi lặp lại thí nghiệm, các nhà khoa học thấy rằng độ trễ từ chân này tới chân cuối cùng chỉ 0.3 mili giây (ms) - một hệ số cất nhỏ so với thời gian của một lần nháy mắt - giúp cho mối chỉ đúng hướng. Điều này cho thấy độ trễ có thể so sánh được với những gì loài mối trong tự nhiên cảm nhận rung động bên trong những cái hầm.
Nhà sinh vật học Peggy SM. Hill thuộc đại học Tulsa ở Oklahoma không làm trên nghiên cứu này. Tuy nhiên, cô đã nghiên cứu rung động của loài côn trùng một thời gian khá dài. Cô cho biết, cách đây mười năm các sách khoa học nói với học sinh rằng vật liệu cứng như trong mặt đất không thể truyền được thông điệp rõ rằng như cách tạo ra rung động. Nhưng rõ ràng, điều này đã không đúng như nghiên cứu mới về mối này đã cho thấy.
Các nhà khoa học hiện tại đang xác định 150,000 cách giao tiếp khác nhau bằng rung động trong những tổ mối hoặc các bề mặt cứng. "Chúng tối mới chỉ bắt đầu hiểu được chúng làm như thế nào", Hager nói với Science News

Thursday, 21 August 2014

Hợp chất phá hủy tầng ozon vẫn còn trong khí quyển

Nghiên cứu của NASA cho thấy khí quyển Trái Đất chứa một lượng lớn "hợp chất phá hủy tầng ozon" từ một nguồn không rõ sau hàng thập kỷ lệnh cấm hợp chất này được công bố toàn cầu.

Các vệ tinh quan sát một lỗ hổng lớn tầng ozon ở Nam Cực năm 2006. Màu tím và xanh da trời đại diện cho khu vực có nồng độ ozon thấp, vàng và đỏ có nồng độ cao hơn.
Carbon tetrachloride (CCl4), loại hợp chất từng được sử dụng để sấy khô cũng như là một tác nhân trong chữa cháy, đã được điều chỉnh vào năm 1987 theo Nghị định thư Montreal cùng với khí CFC mà phá hủy ozone và gây ra lỗ hổng tần ozone ở Nam Cực. Các bên tham gia Nghị định thư Montreal đã báo cáo không phát thải CCl4 giữa 2007-2012.

Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy lượng phát thải trung bình của CCl4 trên toàn cầu khoảng 39 ngàn tấn trên một năm, xấp xỉ 30 % lượng khí thải đạt đỉnh trước khi công ước quốc tế có hiệu lực.

"Chúng ta không mong đợi những gì đang được nhìn thấy" Qing Liang, một nhà khoa học khí tượng thuộc Trung tâm Bay Vũ trụ của NASA tại Greenbelt, Maryland, và là người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết. "Rõ ràng là đã có sự rò rỉ chất thải công nghiệp chưa xác định, lượng khí thải lớn từ các khu vực ô nhiễm, hoặc các nguồn CCl4 chưa rõ."

Tính đến năm 2008, CCl4 chiếm khoảng 11 % của Clo là phá hủy ozone, điều mà đã không đủ để làm giảm dần xu hướng sử dụng các hợp chất phá hủy ozone. Tuy nhiên, các nhà khoa học và các nhà quản lý muốn biết nguồn gốc của lượng khí thải chưa giải thích được.

Trong gần một thập kỷ, các nhà khoa học đã tranh luận về lý do tại sao mức độ theo dõi CCl4 trong khí quyển đã giảm chậm hơn so với mong đợi mà dựa trên những gì được biết về cách thức hợp chất này bị phá hủy bởi bức xạ của mặt trời và quá trình phân hủy tự nhiên khác.

"Có một quá trình biến mất của CCl4 mà chúng ta không hiểu, hoặc có những nguồn phát khí thải mà chưa được công bố hoặc chưa được xác định?" Liang cho biết.

Với báo cáo không phát khí thải CCl4 giữa 2007-2012, lượng hợp chất này trong khí quyển đáng nhẽ phải giảm với tốc độ 4% mỗi năm. Các quan sát từ mặt đất cho thấy nồng độ này trong khí quyển chỉ giảm 1% mỗi năm.

Để tìm hiểu sự khác biệt, Liang và các cộng sự đã sử dụng mô hình 3-D GEOS Chemistry Climate của NASA và dự liệu toàn cầu từ các trạm quan sát mặt đất. Các phép đo CCl4 sử dụng trong nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc phòng thí nghiệm nghiên cứu Trái Đất của cơ quan quản lý khí quyển và đại dương quốc gia Hoa Kỳ "NOAA" và viện hợp tác nghiên cứu hợp tác Khoa học Môi trường thuộc đại học Colorado, Boulder của NOAA.

Mô hình mô phỏng hóa học khí quyển toàn cầu và sự giảm CCl4 bởi tương tác với đất và đại dương đã chỉ ra một nguồn đang phát sinh CCl4 chưa xác định. Các kết quả được xác định dựa trên tính toán lượng khí thải toàn cầu CCl4 từ 2000-2012.

Thêm vào đó, nguồn chưa giải thích được của CCl4 trong kết quả của mô hình cho thấy hợp chất hóa học tồn tại trong khí quyển lâu hơn 40% so với dự tính trước kia. Nghiên cứu được công bố online số 18 trong tháng 8 trên Geophysical Reseach Letters 

"Người ta tin rằng lượng khí thải phá hủy tầng ozone đã ngừng bởi Nghị định Montreal. Thật không may, vẫn còn có muồn nguồn chính phát ra CCl4 trên thế giới". Paul Newman, nhà khoa học đứng đầu Trung tâm bay Vũ Trụ Goddard của NASA, đồng tác giả nghiên cứu cho biết.

NASA theo dõi các dấu hiệu sự sống từ đất, khí quyển và không gian với một hạm đội các vệ tinh và các chiến dịch quan sát mặt đất cũng như trên không đầy tham vọng. NASA phát triển các phương pháp mới để quan sát và nghiên cứu hệt thống tự nhiên liên kết với nhau dữ liệu thu thập dài hạn và các công cụ phân tích bằng máy tính để hiểu rõ hơn sự thay đổi của hành tinh chúng ta diễn ra như thế nào. NASA chai sẽ kiến thức đọc đáo với cộng đồng quốc tế và hợp tác với các viện nghiên cứu của Hoa Kỳ và trên toàn thế giới để đóng góp cho sự hiểu biết và bảo vệ hành tinh - ngôi nhà chung của chúng ta.

Sunday, 10 August 2014

Hố đen lúc vũ trụ mới sinh ra

Trước khi Big Bang là gì? Thuyết Big Bang đặt ra một câu hỏi lớn: nếu nó thực sự là một biến cố đã làm bùng lên vũ trụ tồn tại cách đây 13.7 tỷ năm, cái gì đã gây ra nó hay nguồn gốc của nó là gì? Ba nhà nghiên cứu thuộc viên nghiên cứu Perimeter có một ý tưởng mới về những gì đã xảy ra trước Big Bang. Có một chút khó hiểu nhưng nó dựa trên tính toán khoa học và có thể kiểm chứng được?

Trước khi xảy ra Big Bang
Những gì chúng ta cảm nhận như vụ nổ lớn Big Bang, có thể là ba chiều "ảo" của một ngôi sao sụp đổ trong một vũ trụ hoàn toàn khác với vũ trụ hiện tại.

"Thách thức lớn nhất của vũ trụ học là hiểu được về chính vũ nổ lớn" thành viên của khoa liên kết viện Perimeter Niayesh Afshordi, giáo sư Robert Mann của đại học Waterloo, và nghiên cứu sinh Razieh Pourhasan cho biết.

Sự hiểu biết hiện tại cho rằng Big Bang bắt đầu với một điểm kỳ dị, một điểm mà cực đặc và cực nóng của không gian thời gian nơi mà các định luật vật lý bị phá vỡ. Những sự dị thường là những thứ kỳ dị, và sự hiểu biết của chúng ta bị giới hạn.

"Đối với các nhà vật lý, những con rồng có thể bay ra khỏi điểm kỳ dị", Afshordi nói trong buổi phỏng vấn với tạp chí "Nature".

Vấn đề là, các tác giả thấy rằng, thuyết Big Bang là tương đối, đồng nhất, và vũ trụ được dự đoán từ sự phát sinh với sự phá hủy mọi định luật vật lý bởi một điểm kỳ dị.

Vậy có thể chuyện gì đó khác đã xảy ra. Có lẽ vũ trụ của chúng ta chưa bao giờ xuất phát từ một điểm duy nhất lúc khởi đầu.

Vũ trụ như đã biết của chúng ta có thể là không gian ba chiều bao quanh chân trời sự kiện của một hố đen bốn chiều. Trong kịch bản này, vũ trụ của chúng ta bùng nổ vào bên trong khi một ngôi sao trong vu trũ bốn chiều sụp đổ thành một hố đen.

Trong vũ trụ ba chiều, các hố đen có các đường chân trời sự kiện hai chiều, có nghĩa là chúng được bao quanh bởi đường biên hai chiều mà đánh dấu "điểm không thể quay trở lại". Trong trường hợp không gian bốn chiều, một hố đen có thể có một đường chân trời sự kiện ba chiều.

Trong kịch bản đề xuất của các nhà khoa học, vũ trụ của chúng ta chưa bao giờ trong điểm kỳ dị, đúng hơn, nó đến từ bên ngoài một đường chân trời sự kiện, được bảo vệ khỏi điểm kỳ dị. Nó chỉ là phần tàn dư bị xé tung bởi một ngôi sao bốn chiều.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh vào ý tưởng này, đã nghĩ rằng nó nghe có vẻ "vô lý", được đặt nền tảng vững chắc với mô hình toán học hiện đại nhất mô tả về không gian và thời gian. Đặc biệt, họ đã sử dụng các công cụ của phép chụp ảnh giao thoa laze để biến vũ trụ lớn vào trong một vũ trụ ảo. Theo các này, mô hình của họ xuất hiện để giải quyết các câu đố của vụ trụ học từ lâu và quan trong là sự dự đoán có thể kiểm chứng được.

Tất nhiên, trực giác của chúng ta có xu hướng ngược lại với ý tưởng mọi thứ chúng ta biết từ xuất phát từ đường chân trời sự kiện của hố đen bốn chiều. Chúng ta không có khái niệm của vũ trụ bốn chiều là gì và trong như thế nào. Chúng ta không biết vũ trụ "cha đẻ" bốn chiều tự nó đến như thế nào.

Nhưng trực giác của con người có thể sai, các nhà nghiên cứu cho rằng, trong thế giới ba chiều chỉ có thể giải quyết được bí ẩn của thực tại.

Họ đã vẽ một điều tương đương với câu chuyện ngụ ngôn của Plato về cái hang, nơi mà các tù nhân chỉ nhìn thấy ánh sáng nhấp nháy sau bức tường của hang động.

"Sự trói buộc ngăn họ về thế giới thực, một vùng với một chiều thêm vào. Các tù nhân của Plato không hiểu được sức mạnh của mặt trời, cũng như chúng ta không hiểu được vũ trụ to lớn 4 chiều. Nhưng ít nhất họ biết tìm câu trả lời ở đâu"

(Theo Science Daily)

Friday, 8 August 2014

Ký HỒNG NHUNG

QUÊ NHÀ
Hình ảnh: Con về thăm mẹ chiều mưa Mới hay nhà dột gió lùa bốn bên Hạt mưa sợi thẳng sợi xiên Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời Con đi đánh giặc một đời Mà không che nổi một nơi mẹ nằm!...  Mẹ, Tô Hoàn

Tháng Bảy nào ở quê nhà chẳng”mướt mát” như vậy, vừa bước ra khỏi sân bay, áo lập tức dính chặt vào lưng với một cảm giác ướt át như thể bị rảy nước, như thể để đầu trần đi dưới trời mưa lâm thâm. Cái nóng đẫm hơi nước quê nhà chưa từng gặp ở đâu, mang đến cảm giác „xứ sở”không thể nhầm lẫn khi gặp lại.

 Và: đành (âm thầm) chịu đựng cái trạng thái lúc nào cũng như đang ngồi trong szauna (phòng tắm hơi). Nhưng đừng quên: chỉ ở miền Bắc thôi, vì vừa bước ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, gió sẽ dạt dào lồng lộng, mang hơi nắng khô giòn lùa vào niềm vui khô ráo trào ra từ huyết quản! (hahahahaha….)
Vừa về hôm trước, hôm sau hai mẹ con”đi tua” ra Hạ Long ngay. Rất nhiều năm rồi tôi mới quay lại cuộc hành trình này. Chả có gì thay đổi: cũng lại bắt đầu bằng „giờ cao su”, nghĩa là nhà tổ chức sợ bà con”cao su hóa” nên dặn đến điểm hẹn từ 7h30 sáng, rồi 9h qua đi vẫn chỉ thấy một đám người ngơ ngác, tự trình bày, tự giải thích, tự bực bội với nhau.
Cứ bảo tại sao dân ta có tính hay nghi ngờ, hoảng hốt, phân vân, nôn nóng và…lắm mồm? Cứ bảo tại sao dân ta sau rốt vẫn kiên trinh, bất khuất và…chín bỏ làm mười, khi (tất nhiên) xe vẫn phải (lò dò) đến và ai nấy hoan hỉ trèo lên, quên tuốt, im tất - rút cục vẫn phải xảy ra cái gì đó vào hồi 10h! (Sống ở VN đừng nôn nóng! thiền! thiền đi!)
Hạ long chả có gì khác xưa, từ chuyện cả bọn lại trèo lên một con tàu nhỏ, vừa ăn trưa vừa (giương mắt) nhìn qua cửa sổ những ngọn núi bất động dưới nắng chang chang, đến một cái vịnh, cả bọn buông bát đũa rời tàu, nhễ nhại leo lên những con thuyền nhỏ khác (sau khi trả một khoản tiền riêng) để người dân ở đó đưa đi ngắm hang động xung quanh.
Hạ long chả có gì khác, lúc nào cũng như lần đầu, khi câm lặng (như đám du khách không biết tiếng Việt) thả mình trôi trên con thuyền lững lờ ngắm biển trời ngăn ngắt xanh. Xa xa vẫn những con thuyền chứa cả một gia đình nhiều thế hệ trên đó, ai nấy bận bịu làm chuyện riêng của mình, người lớn loay hoay, trẻ con khóc mếu hoặc chạy đi chạy lại, một con chó lúc đầu ve vẩy đuôi khi thuyền tôi đi qua, nhưng chắc tôi ( chòng chọc) nhìn nó lâu quá, nó bắt đầu gầm gừ rồi sủa toáng lên. Hừ! chó để làm gì nhỉ? nhất là trên mặt nước? hahahaha…
Tôi bắt gặp mình như một (tên) du lịch ba lô vô cảm, không gì làm tôi đặc biệt chú ý, tò mò và gợi cảm xúc, tôi chỉ thầm reo lên khi nhìn thấy hàng phượng vĩ ven đường, tươi tắn đỏ rực rỡ trên nền trời xanh biếc. Con trai tôi trái lại, xúc động thật sự, nó thì thầm nhắc đi nhắc lại bên tai tôi: À, đây là Hạ Long Bay đây.
Chỉ trên đường về Hà nội, ngắm chăm chú những ruộng lúa nước hai bên đường, những chú trâu đen đủng đỉnh gặm cỏ, những mái đầu đội nón cúi rạp xuống cấy mạ, xa xa làn khói đốt đồng bảng lảng trong bóng chiều hoàng hôn…chỉ lúc ấy, tôi biết tôi vẫn chưa hề, chưa bao giờ đi đâu xa khỏi cái đất nước thân yêu quen thuộc này…
Hôm sau, hai mẹ con”đi tua” đến Hoa Lư, lâu lắm rồi tôi mới lại tới đây, có dễ  ngót chục năm rồi. Cảnh tượng xưa trong đầu bị thay thế bằng những”công trình” xây dựng hoàn toàn khác, thật lạ, không làm tôi ngỡ ngàng, mà (một lần nữa) tôi lại biến thành một (tên) du lịch ba lô vô cảm.
 Xe vừa dừng bánh, một đám đông phụ nữ, trong đó rất nhiều bà già xúm lại, túm lấy đám khách vừa xuống xe bằng những lời mời mọc co kéo như thể đi bắt đền người khác. Ôi Hoa Lư, kinh đô xưa, một ngày biến thành biểu tượng của những cảnh ăn vạ đám đông kinh hãi, những người đàn bà già ấn vào tay mi một cái gì đấy bắt mua, một người lom khom, một người khập khễnh, một người tập tễnh, lao xao ồn ào lải nhải như một bầy ong, và những người thợ ảnh (cứ) chụp tanh tách đám du khách, kiên nhẫn đi (thăm quan) cùng họ, để sau cùng ép họ trả tiền những bức ảnh (không yêu cầu).
Nắng trải chang chang trên cảnh vật núi non biếc xanh hùng vĩ, vậy mà không thể được yên để (chí ít) nghe lòng mình xúc động (chăng?).
Rồi đến cảnh thăm quan cuối cùng: đi thuyền thăm những hang động, một buổi chiều”phơi nắng toàn tập” cùng những người chèo thuyền chủ yếu là phụ nữ. Ở đây, đột nhiên sự vô cảm của tôi…run rẩy.
Tuy vất vả nhưng những phụ nữ lái đò trên bến Tràng An vẫn vượt khó từng ngày vì hạnh phúc gia đình.
Tôi và con trai lên một chiếc thuyền nhỏ, người chèo thuyền là một phụ nữ trung niên, không nói không rằng, dáng gầy gò như nhiều người phụ nữ chèo thuyền khác. Chỉ đôi khi, từ một con thuyền trên đường ngược trở ra, người ta hỏi một con số, và người phụ nữ chèo thuyền này cất tiếng trả lời bằng một con số. Sau đó, chị ta lại yên lặng, mải miết điều khiển mái chèo…bằng chân.
Đến lần thứ ba câu hỏi con số vang lên từ những thuyền ngược xuôi, không nén được sự tò mò của mình nữa, tôi hỏi: „Những con số đó là cái gì vậy, hả chị?”. Không nghe tiếng trả lời, tôi quay lại và hốt hoảng, người phụ nữ chèo thuyền mặt trắng bệch, gần như bất động toàn thân, chỉ đôi chân vẫn không ngừng điều khiển nhịp nhàng mái chèo. Tôi chợt nhận ra, người phụ nữ này đang quá mệt, đang lả đi vì một nguyên nhân nào đấy. Tôi nhìn quanh, thật may sắp đến chỗ nghỉ để khách dừng chân.
Đấy là cuối đoạn sông, những con thuyền chở bánh kẹo, nước ngọt, hoa quả và đồ lưu niệm buông sẵn ở đó áp sát lại những con thuyền vừa tới, trước khi quay đầu  trở ra. Tôi mời chị chèo thuyền một gói bánh và một chai nước ngọt, chị cảm ơn và lặng lẽ ăn.
Chỉ trên đường ra, quay lại bến, chúng tôi mới trò chuyện nhiều hơn. Chị cho tôi biết, ở điểm du lịch này luôn luôn có khoảng hai nghìn”hộ” đợi số thuyền của mình được xướng lên, nghĩa là đến lượt chủ nhân của thuyền có cơ hội chở khách, mỗi lượt đi được một trăm nghìn đồng (khoảng 5 USD). Tôi tưởng thường xuyên đến lượt chị, nhưng chị bảo, không đâu, khoảng nửa tháng một lần, vì số người đợi đông lắm. Rồi chị kể cho tôi nghe cảnh gia đình nghèo khó không lấy gì làm may mắn của chị.
Tôi nhớ ấn tượng về Hoa Lư trong cái nắng gắt chói chang, trong dáng vẻ mệt mỏi chịu đựng câm lặng của người phụ nữ chèo thuyền, trong cả tiếng reo vui của con trai tôi khi ngước nhìn lên núi thấy một con dê trắng thấp thoáng, hay nhìn xuống mặt nước thấy những hạt đỏ kỳ lạ lốm đốm trên các rễ cây dạt, mà chị chèo thuyền bảo đấy là trứng ếch sẽ nở ra đòng đòng, rồi lũ vịt cỏ trắng muốt bé xíu, gọn nghẽ như một nắm cơm vừa khỏa nước vừa ngoác miệng kêu rõ to…
Những ngày sau đó, rời miền Bắc, hai mẹ con vội vã „bay” vào Nam. Điểm đến đầu tiên là Đà nẵng, một thành phố đẹp, hiện đại, rộng rãi thưa người (quá bất ngờ), nếu người ta chỉ quen với Hà nội, Sài gòn đông đến nghẹt thở. Kẻ đi chơi, đi du lịch truyền nhau câu nói: đây là thành phố đáng sống nhất ở Việt nam. Nhưng một ông tacxi Đà Nẵng bảo tôi: ở Đà Nẵng không có việc làm, khó kiếm tiền lắm.
Có lẽ điều nổi bật nhất ở Đà nẵng là những cây cầu hiện đại mới xây, và bức tượng Phật cao nhất VN ở chùa Linh Ứng. Nhưng tôi cảm thấy dễ chịu hơn khi đi ca nô ra Cù Lao Chàm và đến Hội An. Nghe nhiều, đọc nhiều, xem nhiều về Hội An, nhưng tận mắt ngắm Hội An vào buổi tối, khi các phương tiện giao thông đều bị cấm, chỉ được dùng đôi chân dạo phố, mới thấy vẻ đẹp của Hội An. Vẻ đẹp ấy là gì? Tôi đã thốt lên ngay từ phút đầu tiên chiêm ngưỡng: giống hệt Hà nội ngày xưa!
Đúng vậy, Hà nội tuổi thơ của tôi êm đềm, nhỏ nhắn, đa màu sắc, thanh bình và dịu dàng như Hội An buổi tối. Quái gở thật, chỉ cần tái hiện cái bình yên cổ xưa đã đủ tìm ra nỗi lòng thanh thản cũ. Mới thấy con người và cuộc sống hiện tại lộn ngược đến mức nào.
Sau đó chúng tôi „bay” vào Sài gòn, trên máy bay có thể mua vé xe buýt đi Vũng Tàu, nên vừa rời máy bay chúng tôi lên xe buýt đi Vũng tàu ngay. Kỷ niệm về Vũng tàu thật khó tả, vừa ướt đẫm nước mưa, vừa kỳ lạ vì những cuộc gặp gỡ. Trước hết là tìm ra họ hàng (xa lắc xa lơ), tuy điều này chả có gì khó khăn: Vũng Tàu giờ đây là của người Bắc, ngập tràn giọng Bắc, món ăn Bắc, các khu dân cư toàn người các tỉnh phía Bắc.
Với con trai tôi, Vũng Tàu là một thứ quả kỳ diệu, quả sa kê (thoạt nghe tưởng tên một loại rượu Nhật). Khi cô chị họ mang lên một đĩa sa kê cắt lát rán vàng (và không nói gì), nó tưởng đấy là khoai tây chiên nóng giòn, nó ăn hết sạch và vẫn tiếp tục tưởng thế cho đến tận hôm về, cô chị họ mới dẫn ra chỉ cây và quả cho nó biết. A! nó kêu lên vô cùng thích thú, lôi ngay máy ảnh ra và…tách!
Còn tôi nhớ đến Vũng Tàu trong kỷ niệm của màn mưa và bóng dáng của một nhân vật khá kỳ lạ bất ngờ tôi quen. Đúng hơn, một người quen dẫn chúng tôi đến nhà anh. Đấy là một trí thức Việt đã từng sống rất lâu ở Pháp, toàn bộ con người anh toát lên một cái gì đấy quen thuộc từ nền văn hóa Pháp, khiến tôi không thể không (chạnh lòng) liên tưởng. Bố tôi từng là một „biểu tượng” của nền văn hóa này trong tôi.
Lúc đầu chúng tôi chỉ định ở Vũng Tàu một ngày, nhưng có lẽ vì trời mưa và vì dấu ấn của một nền văn hóa khác (vừa lạ vừa quen) chăng, chúng tôi ở lại Vũng Tàu thêm một ngày nữa. Người trí thức (Việt-Pháp) mới quen này kỳ dị vì những việc làm của anh. Để lại toàn bộ gia đình (một vợ hai con hai cháu) ở Paris, anh về Vietnam một mình, chọn Vũng Tàu để sống, làm những gì anh thích. Một trong những việc anh thích ấy là bắt tay vào cải tạo cái môi trường sống quanh mình. Ngày nào anh cũng đi nhặt rác trên con đường từ nhà anh ra đến bãi tắm (đi bộ chừng 15 phút), làm những thùng xốp đặt hai bên đường để đựng rác, vần những phiến đá xếp thành ghế ngồi và trồng rất nhiều loại hoa chạy dọc con đường ra biển. Lúc đầu dân ở đây đứng xa xa nhìn, thấy lạ, giờ, họ niềm nở chào anh, bọn thanh niên bắt đầu giúp anh cũng nhặt rác và phát quang cây, cỏ. Thậm chí, chính quyền thành phố quyết định tặng anh một bằng khen!
Tôi hỏi gia đình anh nghĩ gì khi anh trở về VN sống? anh bảo ai cũng phản đối dữ dội, vợ anh ly hôn, nhưng năm ngoái nghe tin vợ bệnh nặng, anh về Paris một năm chăm sóc vợ, vợ bình phục, anh lại quay về VN. Tại sao anh quay về? Anh ngẫm nghĩ và bảo: không thì tôi thấy tôi phí lắm, tôi có thể làm nhiều điều khác ngoài cả đời làm một ông bác sĩ ở Paris.
Tôi không chú ý lắm đến căn nhà nửa Á nửa Âu của anh, tôi bị chìm vào suy ngẫm, khi đôi lúc nhận ra một cái gì đấy bất ngờ trong cách ứng xử, trong quan điểm, trong nội dung những câu chuyện của anh. Và nhất là khi chạy trong màn mưa ra bãi tắm, nhảy sóng trên biển mưa ngút ngàn, quay về chạy vượt qua những khóm hoa đủ màu đẫm nước, những phiến đá xếp vụng về, những thùng xốp ghi chữ Thùng Rác to tướng.
Con người đúng là một thế giới riêng duy nhất mênh mông.
Rời Vũng Tàu, hai mẹ con tôi về Sài gòn, đi chơi khắp nơi trong thành phố, tôi hỏi con trai thích Hà nội hơn hay Sài gòn hơn? nó bảo: thích cả hai, vì cả hai đều đẹp như nhau.
Con trai tôi cũng là một thế giới riêng kỳ lạ: đến nơi nào nó cũng hý hoáy lôi mấy con ngựa Poni yêu quý của nó ra chụp ảnh cùng nơi ấy. Ai cũng lấy làm lạ,  cũng như tôi không màng tới lời chia xẻ của nó: con chụp để gửi cho tất cả mọi người. Rồi khi nó hãnh diện chỉ trên màn hình nhỏ, lúc này tôi mới hiểu nó chụp ảnh để làm gì, đúng là nó đã chia xẻ niềm vui của nó với mọi người-bằng cách riêng mà nó muốn.
Đấy: quê nhà trong tháng Bảy-Julius 2014 của tôi.

nguồn : ĂN MÀY VĂN CHƯƠNG amvc.fr
Nguyễn Hồng Nhung
( Budapest.2014.07.23)

Thursday, 7 August 2014

Thơ CHẸC CHẸC

                


                                       THƠ NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH
                                                                                      Trần Đán ( Boston - Hoa Kỳ )


   Tập thơ Chẹc chẹc của Nguyễn Đình Chính gồm những bài thơ nhả đầy tiếng liên thanh, tiếng văng tục đường phố, tiếng chắc lưỡi về thời thế ngày hôm nay trên đất nước VN, chấm dứt bởi bài “Thông điệp hoa hồng” nhen nhúm hi vọng.

   Là con trai của nhà văn cách mạng nổi tiếng Nguyễn Đình Thi, anh nhập ngũ Quân Đội Nhân Dân miền Bắc lúc anh 18. Nơi luyện quân là rừng già dưới núi Yên Tử, Quảng Ninh, cách Hà Nội 125 cây số, nơi thờ vị vua ở thế kỷ 13 Trần Nhân Tông. Trong nguyên tắc và thực hành, tinh thần hòa giải và cầu hòa của vị vua này, người từng đánh bại quân Mông Cổ, rồi từ ấn về Yên Tử lập ra phái Thiền gọi là Trúc Lâm Yên Tử, hiện đang được đại học Harvard cẩn trọng nghiên cứu. Có lẻ lòng từ bi của vị vua đã độ trì người lính trẻ qua cuộc chiến tàn khốc. Đơn vị của anh lâm trận với các đơn vị Mỹ hùng mạnh, bị tổn thất nặng nề. Nhưng anh sống sót và chỉ bị thương.

Khi cuộc chiến chấm dứt năm 1975, người chiến binh quay về nhà. Trong mười năm tiếp theo, những chính sách kinh tế và chính trị sai lầm của nhà cầm quyến đã cầm tù hàng vạn người của chế độ cũ, đẩy hàng triệu dân đi vượt biển, và đưa đất nước đến hai cuộc chiến mới – với Trung Quốc và Kampuchea. Sau khi Liên xô sụp đỗ, nhà cầm quyền VN phải theo con đường cải cách để cứu vãng nền kinh tế đỗ nát – và để tự cứu mình. Khi nền kinh tế đã vững, họ quay lưng lại đối với nhân dân. Tất cả các đòi hỏi dân chủ và tự do bị đàn áp. Tham nhũng tràn lan. Công lý bị khinh rẻ. Nhóm cầm quyền vơ vét tài sản khiến hố cách biệt giàu nghèo ngày thêm lố bịch, hơn cả trong những xã hội tư bản mà họ luôn mở miệng lên án.
60 năm sau Cách Mạng Tháng Tám, 30 năm sau ngày thống nhất, nhà thơ tự hỏi, Còn gì những lý tưởng về tự do, bình đẵng, nhân ái mà thế hệ của anh đã hi sinh biết bao xương máu cho. Những gì nhìn thấy thật đau lòng.

nhân dân trắng tay
nhân dân bị thương
nhân dân đầm đìa mồ hôi
nối nhau
bò lê bò toài
ăn mày tự do
ăn mày sự thật

(Bài thơ chết)


Quê hương nay còn đâu?
tôi muốn chia sẻ với bạn
nỗi buồn không thể nói lên thành lời
không của riêng ai
nỗi buồn vô gia cư
như ngọn gió
lang thang
đi hoang
trong ngôi nhà tổ quốc.
(Cùng hát lên)


  Đi đâu anh cũng thấy toàn cảnh ăn thịt người, những cách đối xử tàn nhẫn mà nhà cầm quyền cộng sản lên án nhưng vẫn chính mình thực hành.

tâm hồn mi bị trói bó dò đặt ngửa tềnh hênh
trên bàn bị chặt ra tùng khúc bị hấp cách thủy
bị tẩm bột bị quay chín vàng và mi đeo khăn ăn vào cổ ngấu nghiến hả hê ngấu ghiến nhai nuốt nhai nuốt nhai nuốt nhai nuốt
khoái khẩu

(Những bữa tiệc ăn thịt người)


     Đáng tiếc thay lần này kẻ thù không phải là Kẻ Lạ – những quân viễn chinh thèm khát thuộc địa, thèm khát tài nguyên, nườm nượp bom đạn và thuốc khai quan. Dưới mắt nhà thơ, kẻ thù nằm trong


câng câng mặt thằng đại gia ăn cướp
(ăn cướp chứ không phải ăn cắp)
trí thức cụp tai
ngòi bút trượt dài sợ hãi
sự ngạo mạn trống rỗng lên ngôi
và quả đấm rình mò

(Cục cứt thơ)


Lần này kẻ thù là Chính Ta – những người cách mạng tha hóa, các nhà trí thức hèn nhát, các nhà văn khiếp sợ, trong đó có chính anh trong những ngày tháng trước đây.

và nụ cười gượng gạo của một nền đạo đức giả
dối đã được hun đúc hàng trăm thế kỉ
đất thó mi (zê) hì hục tự đắp tượng đài tâm hồn
của chính mi (zê) bao lâu nay

(Bức tường)


Đối với anh, tất cả các lý tưởng cao đẹp của Cách Mạng đã bị phản bội.
Đứng trước sự thật phũ phàng đó nhà thơ và những người đồng cảm ít ỏi cảm thấy như


những hạt bụi
không thể chết

lại càng cũng không thể sống
giữa thiên đường tổ quốc

(Những hạt bụi hóa đá)


Chưa bao giờ họ cảm thấy lạc loài như thế.
tôi là người vô gia cư trên tổ quốc của tôi
mỗi khi tôi hát lên bài ca thương cảm
giống như bát cháo hoa vẩy lên trời bố thí
cho hàng triệu oan hồn lang thang đói khát
bị chết oan không hiểu vì sao mình lại chết
trong cuộc chiến tranh chỉ mang lại quyền lực
và tiền bạc cho một dúm kẻ ác tâm tàng hình

(Tôi cũng là người vô gia cư)


Rồi đến lúc nhà thơ không thể im lặng được nữa và phải cất lên tiếng nói của “người lính già/ bị phản bội” (Thông điệp hoa hồng.) Chán ngấy những đề tài an toàn như tình yêu, sự tao nhã, tính anh hùng, anh không ngại ngùng xông vào những vùng cấm như sự thù hận, dục vọng, tính ương hèn ngoài đời cũng như trong chính ta.
Có lúc thơ anh u ám, cay đắng như thơ Sylvia Plath.


thật ra thì không có gì đáng hoảng
cái chết đôi khi dễ chịu
dù cũng ma chay điếu phúng linh đình
thân xác tiêu mẹ nó rồi (hết nhe răng ra ăn thịt)
tâm hồn chạy thoát bay lượn trong một thế giới
bí mật đầy những ảo giác thật giả hoang
đường chúa trời đức phật
(đéo phải thành đồ nhắm nữa)

(Những bữa tiệc ăn thịt người)


Có lúc thơ anh đầy phẩn nộ như thơ Pablo Neruda hay Vladimir Mayakovsky.


có một lần trong cơn say điên loạn
tự do ơi ta (zê) vồ được mày rồi
trơn tuột da lươn loằng ngoằng thân rắn
tự do nấc lên ặc ặc
tự do ngoáy đít oẵng oẵng
tự do ư ử ngạt thở mông đùi
và mi (zê) cuống cuồng húp lấy húp để nuốt lấy
nuốt để
húp cái gì nuốt cái gì (không biết)
mong chạy thoát ra khỏi cái chuồng chó ba lần
khóa xích
mong giải thoát tâm linh ra khỏi móng vuốt cơn
say choáng váng u mê ngạt thở tắc đờm tức
ngực

(Tự do ngoáy đít)


Kẻ thù còn là nền thi ca nhàm chán, chuyên ca tụng chế độ, chuyên tô hồng thực tế, mà chính anh đã từng tham dự.


vì thế thơ mi (zê) đành bò len lén
vì thế thơ mi (zê) lê la hành khất
áo vá bụi đời đôi giầy sục cứt
lấm lét ăn vụng đói nghèo (ăn vụng chứ không
dám ăn cướp)
lổm ngổm vỉa hè rống lên ông ổng
phọt ra ồng ộc ngộ độc mắm tôm (thổ tả)

(Cục cứt thơ)


Khi nhận thức ra, Chính đã không ngần ngại giải phóng tính “vìa hè” của thơ, để cho nó tha hồ biểu lộ cơn thịnh nộ đang dâng lên khắp đầu đường xó chợ


không phải thân xác mi mà là thơ mi thơ mi bị
đá văng ra vỉa hè như con chó già mù lòa vô
dụng bị chủ đá văng ra cửa
không phải bị đá văng ra cửa mà là bị đá văng
ra khỏi sự bón mớn phỉnh nịnh vỗ về
tất nhiên kèm theo cả sự lo toan định hướng
dậy dỗ nghiêm khắc lạt mềm trói chặt
(nhưng ông mà điên lên thì cho mày (thơ) xơi
chầu dùi cui roi điện)

(Thơ vĩa hè)


    Không còn gì thối tha bằng thực tế ngoài kia nên Chính phải nhào nặn, quậy lên những thi thuật mới, những ngôn ngữ mới.
    Trước hết Chính đưa vào thi ca cái ngôn ngữ dung tục đường phố, tấp nập những tiếng tục tằng như cứt, đít, lồn và những tiếng chửi thề như e mé mày, tiếng người dân tộc Mán mà anh học lóm được lúc đi lính.


cục cứt mày ngủ cho ngon
đêm nằm mơ mớ dịu dàng
mọc ra đôi cánh nhập nhằng chập cheng (xò ri)
mọc ra đôi cánh nhịp nhàng
nhịp nhàng là nhịp nhàng bay lượn thờ lôn (hồn thơ)

(Cục cứt thơ)


Nếu có vị nào trong nhà nước cộng sản lên án Chính là làm dơ bẩn thi ca, Chính sẽ đem lảnh tụ Lenin và Mao ra nhạo báng: vì Lenin và Mao từng xem trí thức còn thấp kém hơn cục cứt thì nhà thơ chỉ ước được làm cục cứt.
Ồn ào như chợ vỡ trong thơ Chính là những tiếng chó sủa – ốc ốc ốc/ ôi ôi ôi – tiếng nhạc trẻ thế hệ 8X – xập xình xập xình xập xình – mà chắc là Chính nhái lại từ ban nhạc rock Gỗ Lim của con gái.
Gây bấn loạn trong đám đọc giả có học, trên 40 tuổi, lâu lâu Chính sử dụng những tiếng lóng của bọn trẻ 8X như đao mèo, thắng chí ẩu.
Chính không ngại chửi thẳng vào mặt, nhưng anh cũng biết ví von bằng cách nói lái như trong thờ lôn, đao mèo. Như Hồ Xuân Hương ở thể kỷ thứ 19, Bà Chúa Thơ, Chính ngao ngán về sự bất lực của thơ chính thống để diễn tả thực tế và muốn thách thức những nhà kiểm duyệt văn hóa.
Chính cũng ghét dùng dấu , những vật cản thay vì bôi trơn ngôn ngữ. Dấu duy nhất mà anh tự cho phép sử dụng là dấu chấm hết. Vì thế câu thơ của anh đọc như một phát liên thanh, hừng hực như câu thơ của Allen Ginsberg.
Nhưng cuối cùng thì nhà thơ từ chối để tuyệt vọng thắng. Trong bài Thông điệp hoa hồng, Chính trông đợi “trận cuồng phong hoa hồng” đến giải thoát tâm linh và thi ca.


gót chân tháng giêng
gót chân mộng du
lạnh buốt
mơ màng
chầm chậm mang theo thông điệp
trận cuồng phong hoa hồng
rực rỡ
dữ dội
sắp tràn về

nhấn chìm tất cả.
(Thông điệp hoa hồng)


    Chính không phải một mai mà giác ngộ. Sau chiến tranh anh viết nhiều truyện văn xuôi, những truyện mà sau này anh xem là quá “hiền lành.” Năm 1999 anh làm một cuộc đổi dời. Tập truyện 1000 trang của anh tựa đề “Đêm Thánh Nhân” làm chấn động giới văn học. Trong truyện tác giả vạch trần mặt trái của xã hội, mô tả cuộc sống tối tăm của hàng loạt những con người dị ngợm, bần cùng, ngây ngô bị những kẻ có quyền thế, bọn đồng hương và đám trục lợi bóc lột đến tận cùng. Mặc dù anh không công nhận nhưng rõ ràng anh đã sử dụng vản pháp hiện thực huyền ảo, văn pháp đa năng nhất để vẻ lên chân dung đầy đủ của nước Việt Nam đương đại – chân dung xã hội, chính trị và tâm thức. Có lẻ do nhận ra giá trị văn học không thể chối cải trong tác phẩm này mà nhà xuất bản Văn Học trực thuộc nhà nước phải miễn cưỡng xuất bản Tập I. Một tháng sau, họ lại ra lệnh thu hồi và cấm xuất bản cho đến 7 năm sau.
   

    Năm 2009 Chính xông vào làm thơ. Nhưng cũng như truyện, thơ anh cũng chẳng được các vị kiểm duyệt buông tha. Để thoát gọng kiềm anh bèn phóng lên xa lộ Internet. Anh lần lượt đăng thơ trên các blog thân thiện và cho phép đọc giả tải từ sách điện tử Kindle. Một tập thơ gồm 163 bài được nhà in Tân Hình Thức đăng tại Hoa Kỳ, trong số này 22 bài đã được tôi tuyển để dịch sang tiếng Anh trong Tuyển Tập này

    Nhờ thế mà thi ca Việt Nam vươn tới một đỉnh cao mới.

Tuesday, 5 August 2014

Thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn





GÁNH THÁC OAN HỒN




Vãi chân tay lên xuống ngước nhìn

một khoảng vô cùng trắng



Núi lá bồ đề rơi mục

từng lớp phù du men mốc mọc

cây nấm đường đời cay nghiệt



Biết sao ta đếm được tội đồ

trên lá cây vạn ngàn năm



Nuốt bọt nước sôi cuống họng

gào thét với mặt trời

nghe tiếng tế bào ù ơi

hồn xưa oán miền hư không



Ta thấy chuyến xe ngựa ban chiều tắt nắng

núi rực con vượn già hú vang

một tiếng gọi tổ tiên vĩnh hằng



Hồn ai đó.

Xin đừng vụt biến

trú ngụ nơi đất cho xác thịt sinh tồn



Vỏ bọc màu da nâu chai lỳ

loài người rừng cô độc

đi vào phố thị theo đàn bò ngơ ngát

với đồng cỏ xanh...



Hãy bọc thân mình miếng nam châm

tìm nhau đi tâm hồn mơ



Đà Nẵng 29.7.2014


Huỳnh Lê Nhật Tấn