Thursday, 29 May 2014

VLADIMIR KOZLOV



Khi Putin chiếm Crimea, Lukashenko liền lên tiếng tán thành. Vị tổng thống chuyên quyền và mị dân này đã cầm đầu nhà nước Belarus từ 1994, được các nhà báo phương Tây phong chức “ Nhà độc tài cuối cùng của Âu châu.” Trong khi Ukrain biến loạn. Lukashenko vẫn khéo léo một mặt hợp tác với Nga, một mặt đàn áp mọi phong trào chống đối trong nước. Mỗi lần bầu cử nhiệm kỳ tổng thống mới ở Minsk là Lukashenko lại đắc cử nhờ gian lận – lần cuối vào tháng12-2010. Góp phần soi chiếu vào các xã hội hậu-cộng sản khi Liên Xô tan rã, truyện ngắn nặng tính phóng sự sau đây của Vladimir Kozlov – vốn là chủ bút tờ báo Anh ngữ duy nhất tại Belarus – đã được chọn vào Tuyển Tập Truyện Hay Âu châu năm 2014 / BEST EUROPEAN FICTION 2014, Dalkey Archive Press bởi Drago Jancar.

CHÂN PHƯƠNG


 CHÍNH TRỊ


Từ ký túc xá tôi đi ra với quần bò màu đen, áo khoác da và cái khăn ba sọc trắng, đỏ, trắng quấn quanh cổ. Hôm nay là ngày xuống đường phản đối Lukashenko. Tôi đi một mình - mấy tay trọ chung phòng với tôi sẽ không dẫn xác đến. Cả bọn cứ nằm lì trên giường rồi phun nước bọt lên trần nhà bởi chúng chẳng có tí tiền nào để mua vốt ka. Lũ khốn kiếp.

Trên đường tôi đi ngang một đám người tồi tàn thấy mà chán. Họ chẳng mảy may quan tâm đến chính trị hoặc bất cứ việc gì khác, ngoại trừ một thứ là kiếm mua mớ dồi thịt, phồng miệng nhai nuốt, xong ngồi suốt đêm trước máy tivi xem loại phim bộ ngu đần không cái nào hơn cái nào. Dù tôi chẳng chống báng chi lối sống của họ, đương nhiên.

Nhóm xuống đường tụ tập tại quảng trường Yakub Kolas. Từ xa tôi nhìn thấy đám đông với lá cờ ba sọc trắng, đỏ, trắng. Tôi nhận ra vài tên trong phân khoa Bang Giao Quốc Tế ở đại học, cất tiếng chào.

Bọn tôi đứng quanh nhau, hút thuốc, chờ đợi, rồi tiến lên theo các người khác. Nơi hàng đầu có ai đó chỉ huy và chúng tôi lại di chuyển về phía trước. Chúng tôi đi trên vỉa hè về nhà hát ôpêra – đó là khoảnh đất chỉ định nơi chúng tôi được phép bày dựng cuộc biểu tình. Tuyến lộ chính bị ngăn cấm – đám công an chống bạo loạn đứng dàn hàng dọc hè phố, chờ đánh đuổi kẻ nào trong nhóm chúng tôi dám lấn tới.

Nhưng mối hiểm họa thực sự, Chúa ơi Chúa, là một người trong nhóm bị họ lôi ra khỏi đường lớn, bắt đến một mảnh sân khuất để bày trò hành hung chính hiệu của công an.

Vậy là trong nhóm có người của các phân khoa khác, nhưng tôi không thấy ai trong khóa học của mình.

Chúng tôi la to bằng tiếng bêlarút, “Tàn tệ !”, “Lukashenko phải vô tù!”, và “Bêlarút muôn năm!” Những kẻ đi đường khó chịu nhìn chúng tôi - bị chúng tôi cản trở không được rảnh chân chạy theo mớ công việc vặt, họ phải đứng ép sát vào tường nhà mấy dãy phố cho bọn này đi qua.

Con số tham dự cuộc biểu tình hơi yếu – không hơn một nghìn. Vẫn còn vài người bước đến gia nhập nhóm chúng tôi, nhưng chẳng được bao nhiêu. Một nhóm với chừng ấy mạng sẽ không gây nhiều âm vang. Nếu chúng tôi tụ tập nổi mười hay mười lăm ngàn người thì đám công an dẹp loạn hay bọn cớm thường phục sẽ hết làm gì được. Sau đó chúng tôi sẽ biểu dương hò la ngay trước dinh tổng thống.

Chúng tôi đi đến nhà hát. Bọn này có vài trăm mạng với cờ xí và bảng vẽ câu “Bêlarút muôn năm" nhưng cớm và lực lượng chống biểu tình còn đông hơn. Họ đến từ đâu, tất cả những công an này? Họ chả làm gì để giúp mọi thứ doanh thương phải đóng món tiền bảo vệ cho mafia, nhưng khi đến lúc cần bóp nghẹt đối lập thì tất cả đều có mặt. Còn có thêm mớ công an dẹp loạn trên chiếc xe buýt đằng kia. Họ đang ngồi, chờ đợi, đánh bài, nhìn bọn tôi qua các cửa sổ xe.
Cuộc phản đối bắt đầu. Một ký giả chạy theo bên cạnh – chị ta có mặt trong lần phản đối mới đây của chúng tôi, và tôi từng gặp chị ta dăm ba lần gào la đòi dân chủ và tự do ngôn luận trên tivi. Cô nàng tuổi khoảng ba mươi, trang phục gọn đẹp.

Hai cớm, một sĩ quan và một thượng sĩ, trông chừng chị ký giả. Tay thượng sĩ nói bằng tiếng Nga:
“Cũng lại con này. Đồ đĩ ngựa. Hết bú thằng này lại ngậm thằng khác thì cách nào nó còn làm việc được, tôi không bao giờ hiểu nổi. Đ.m. nó cứ rình đợi cơ hội để gây sự với chúng ta. Vì nó viết cho tờ báo rác nào đó, con đĩ này tưởng là chúng mình sẽ không đụng tới nó. Có lần bọn tôi kéo nó lên xe buýt, bạt tai vả má một hồi. Nhưng cái mồm thối nó cứ oang oang - tự do ngôn luận, ngôn luận tự do…

Anh biết không, lần đó vì nó mà bọn tôi suýt bị rắc rối!”
Cô ta lập gia đình chưa?”
Làm sao mà có gia đình? Nó đã ly dị. Chẳng có thằng nào sống nổi với loại đĩ như thế.”
Còn phải nói!”
Chị nhà báo bước tới tôi.
Chào anh. Svetlana Ryabova. Bản tin Minsk . Xin phép cho tôi hỏi vài câu?”
“Được, cứ hỏi.”
Chị ta lấy trong túi xách ra cái máy ghi âm, chìa tận mũi tôi, bấm nút.
“ Anh tự giới thiệu trước tiên. Anh tên gì, đi học hay công tác ở đâu?”
“Antonovich, Sergei. Tôi đang học năm thứ ba khoa tâm lý tại Đại học Quốc gia Bêlarút.”
Xin anh cho biết lý do anh tham gia cuộc biểu tình hôm nay?”
“Vâng, chúng tôi đến đây để bày tỏ sự phản kháng đối với các chính sách của chế độ đang cầm quyền.Chúng là lý do khiến đất nước chúng ta nghèo như thế này và khiến nền kinh tế chúng ta đi xuống.”
“ Theo anh, một vụ xuống đường biểu tình như vầy có hiệu nghiệm bao nhiêu trong cuộc tranh đấu chống chế độ?”
“Không hiệu nghiệm lắm vì chẳng có bao nhiêu người tới. Nếu đông hơn, giới chức trách khi đó sẽ sợ chúng tôi và buộc phải làm điều chi đó để giải quyết. Còn như thế này thì họ có thể cho cớm với công an dẹp bạo loạn ra tay thay vì lắng nghe những gì chúng tôi muốn nói.”
“Anh nghĩ thế nào về tình trạng đấu tranh chính trị của giới trẻ hôm nay, trong các sinh viên? Anh sẽ mô tả nó ra sao ?
“Thế này, ngày nay thiên hạ chẳng quan tâm nhiều đến chính trị. Làm sao kiếm nhanh được chút tiền rồi tiêu khiển, đó là ý nghĩ trong đầu của đa phần giới trẻ hiện giờ. Về chính trị thì coi như họ không…,họ chả màng gì đến ba thứ chuyện đó.”
“ Vậy họ không nhìn ra sự liên hệ giữa tình hình chính trị đất nước chúng ta với chất lượng đời sống của họ hay sao?”
“Có lẽ họ chả nhận ra. Tôi không biết được.”
“Ôkê, cảm ơn.” Cô ta tắt máy ghi âm, rồi rời bước. Tất cả những gì tôi vừa nói ra là đúng, có thể cho là thế. Nếu cô ta biên tập tôi đôi chút trong bài viết thì mọi việc sẽ ôkê. Nhưng lỡ nếu tay khoa trưởng bắt gặp bài báo thì sao? Năm trước có ba gã bị đuổi khỏi môn Bang giao Quốc tế vì tham dự cuộc phản đối, giờ đây họ đang học ở Praha. Họ được bên ấy mời qua học khỏi đóng tiền. Mấy thằng số đỏ. Vài tên trong phân khoa bảo tôi rằng bọn họ vẫn giữ quan hệ với nhau - mấy thằng đó đang học bên Tiệp với tiền trợ cấp. Và còn dư để mua bia uống.

Cuộc phản đối chấm dứt. Mấy nhà cầm đầu phe đối lập chính trị len bên hông đám đông tách ra và lên xe của họ ngồi phòng khi nguy hiểm hiện ra là có thể phóng xe đi. Một nhóm người biểu tình cũng bắt đầu rời chỗ, trừ những kẻ tích cực nhất là đám sinh viên, trong đó có bọn tôi. Ai đó gợi ý lên đường về quảng trường Độc Lập, và chúng tôi bắt đầu cất bước. Trong nhóm có vài tên hơi hoảng – chúng tôi không được phép diễn hành trên đường, có nghĩa là bây giờ chúng tôi tạo cho bọn cớm cái quyền bắt giữ cả đám. Còn nếu không bắt giữ ngay thì họ sẽ đợi khi chúng tôi tản ra, lúc ấy họ sẽ lượm từng đứa. Nhưng, kệ mẹ. Bọn này cứ tiếp tục kéo nhau đi. Còn lại độ hai trăm mạng, chúng tôi nắm tay nhau không cho bọn cớm tóm bất cứ ai, rồi bước trên đường về quảng trường.

Cớm bám sau chúng tôi và kèm theo hai bên, nhưng họ lặng lẽ và chưa đụng đến bất cứ ai. Có nghĩa là họ còn đợi lệnh trên. Không xa bọn tôi lắm là thượng sĩ với sĩ quan khi nãy.Chẳng biết từ đâu Ryabova hiện ra, rượt kịp tay thượng sĩ.
“ Chào anh. Svetlana Ryabova, Bản tin Minsk. Xin hỏi anh vài câu có được không?”
“ Cút đi chỗ khác. Tôi không nói chuyện với những người như chị.”
“Tại sao tôi phải đi chỗ khác? Tại sao anh không nói chuyện với tôi? ‘Những người như chị’ là nghĩa gì cơ chứ? Để tôi đoán thử: trước tiên là phụ nữ, thứ nhì là nhà báo. Có đúng không nào? Thưa ngài, ngài là một kẻ hoàn toàn đần độn !”

Đôi ba người trong nhóm bọn tôi đứng lại nhìn xem chuyện gì sẽ xảy đến. Tôi cũng vậy. Câ bọn nhích tới gần. Vài người khác trong nhóm dừng bước, xoay đầu lại.
“Chị khôn hồn cút ngay đi, bằng không chúng tôi sẽ đưa chị lên xe buýt kia – khi đó chị phát hiện điều gì sẽ đến khi chị giỡn mặt với chúng tôi.”
“Anh có biết anh là cái thứ gì không? “ chị nhà báo hỏi. “Anh là một dị dạng của thiên nhiên. Rác thối toàn diện. Nói cho anh biết, loại thất bại như anh sẽ chẳng bao giờ được ngủ với đàn bà. Đàn bà bằng xương bằng thịt ấy, còn lâu."
Tên thượng sĩ vung quả đấm lên. Tôi chạy tới cho hắn cú đá vào hạ bộ. Hắn gập cả người, bọn cớm còn lại nhào đè lên chúng tôi. Bọn tôi chẳng có món gì để tự vệ - không gậy gộc kể cả rào dậu, xi măng vỉa hè để mà tháo nạy. Chúng tôi phóng nhanh vào cái sân nhà kế cận. Công an chống bạo động cầm dùi cui đã nhảy khỏi xe buýt xông tới – sau rốt cũng đến giờ họ ra tay. Nãy giờ họ chỉ ngồi chán mứa trên xe, nay thì họ có thể vung dùi gậy đập gãy dăm ba cái xương sườn.

Đang bỏ chạy tôi nhìn thấy hai tay cớm nắm chụp Ryabova và kéo cô ả về xe buýt. Chị ta tay huơ chân đá, cố chống trả. Chẳng nhằm nhò gì. Nhưng sẽ không có gì nghiêm trọng xảy đến với cô ta - họ sẽ bắt giữ ả nửa tiếng đồng hồ rồi thả. Nhưng nếu tôi bị họ chặn bắt thì đúng là tai vạ cho tôi. Họ sẽ đập dùi gậy vào phủ tạng rồi nhốt tôi năm ngày vì tội danh “tham gia một cuộc phản đối không có giấy phép “ và “ chống chính quyền”. Tôi chạy qua một cánh cửa vòng cung. Trong sân có xe cộ, bãi đậu. Sau tôi có thêm vài tên trong nhóm, và đằng sau chúng là đám công an dẹp loạn. Tôi trốn trong một nhà xe. Chỉ có một mình tôi hèn yếu nơi này, tôi cảm thấy sợ đến đổi muốn ị ra quần. Thật ra đã có hai đống cứt khô trên khoảng đất sau nhà đậu xe. Tôi tìm chỗ tránh khỏi đạp phải cứt rồi tuột quần xuống. Tất nhiên sẽ hài hước nếu đám công an chống bạo loạn lùng phía sau nhà xe và bắt gặp tôi trong tư thế này. Tôi nghe tiếng động, vài tiếng gào la phía sau bức tường bên kia. Có đứa đã bị tóm. Đống cứt tôi ị bốc hơi. Rút trong túi áo một mảnh giấy tôi đọc “ Chúng ta là thành viên của Âu châu. Lukashenko – đồ ngửi đít!” Sakovich sinh viên năm thứ năm đã trao tôi mẩu giấy này. Bọn tôi đã phát tán chúng quanh khắp giảng đường. Tốt quá, tôi còn được chục tờ. Tôi chùi đít với mẩu giấy, kéo quần lên rồi lặng lẽ lén nhìn từ đằng sau nhà xe. Hai tay công an dẹp loạn đang đánh gục một gã đầu hói mang kính cận với túi da trên vai, họ thọc dùi cui vào bụng gã. Gã gào to, lũ giết người. Cái túi tuột chậm, rời vai gã rớt xuống đất.Công an lôi gã đi.

Không còn ai nơi khoảng sân. Tôi chờ thêm độ năm phút rồi bước ra từ sau nhà xe. Buổi chiều tối dần. Tôi đi tới cái túi, nhìn xuống. Có hai chai vốt ka trong đó. Chỉ bấy nhiêu đó. Không giấy tờ tài liệu gì cả. Có lẽ tôi nên lượm hai chai lên đem về cho bọn ở cùng ký túc xá với tôi.

Như vậy coi như bọn tôi đã thắng! Lukashenko – cho mi ngửi đít ta!

 CHÂN PHƯƠNG chuyển dịch từ bản Anh ngữ
do ANDREA GREGOVICH dịch từ nguyên tác tiếng Nga.
  

Wednesday, 28 May 2014

LÊ VĨNH TÀI






Thành phố tuổi thơ tôi…


Tôi đã bắt đầu bài tuỳ bút này bằng những lang thang quanh ngôi trường cũ, bắt đầu bằng những kỷ niệm tuổi thơ nơi phố núi Ban Mê mù sương một thuở với những hàng cây vút cao như rừng giữa phố, chứ không phải thành phố Buôn Ma Thuột đèn vàng đèn đỏ ngợp nhà gương nắng và bụi hôm nay. 

Phố núi lúc ấy hiền lành và thưa vắng hơn bây giờ nhiều. Cùng với những thằng Tí, thằng Tèo sau giờ tan học, tôi trốn nhà đi hoang xuống suối Đốc Học, móc đất sét để tha hồ nhào nặn những con vật cho tuổi thơ của mình và nhận về rất nhiều lấm lem bùn đất. Hút tầm mắt đứa bé mũi xanh là bạt ngàn những vườn rau cải xanh cải trắng ướt đẫm sương sa qui ra cơm gạo chứ không phải toàn hoa như trong truyện cổ tích tôi vẫn thường nghe kể. ông già hớt tóc quen mặt đã bỏ dở một cái đầu đang nửa trắng nửa xanh trên ghế để dắt tôi về nhà ăn trận đòn nhớ đời cộng với rất nhiều lời than vãn tuyệt vọng dành cho tôi của mẹ. 

Nhà tôi ở đường Tôn Thất Thuyết, một con đường nhỏ thời ấy (đường Lê Hồng Phong bây giờ). Ngõ hẻm phía sau nhà vẫn là chỗ mẹ tôi và hàng xóm mắc võng ầu ơ đón gió mỗi trưa hè, trong lúc chúng tôi lăn tăn uốn quẫy trên nền gạch bông mát lịm. Rồi thế nào ngang con hẻm ấy cũng có một người đàn ông Tàu gánh chè mè xay với chiếc mũ nhựa kiểu Pháp trắng nhờ trên đầu, ới những tiếng rao nao nao nhung nhớ, thế nào mẹ cũng mua cho mỗi đứa một chén chè chiều. Ngõ hẻm ấy còn nhiều tiếng rao nữa, những tiếng rao ôi ao lảnh lót không biết người ta rao gì nhưng biết người ta bán cái gì, quen thuộc đến mức lớn lên có thể tả thành văn chương như thể cuộn cả buổi trưa hè với miếng bột bánh bèo, đậu xanh, mỡ hành, nước mắm đường ngọt lịm. Con hẻm ấy bây giờ không còn. Phía đường Quang Trung thì một nhà hàng ăn uống quốc doanh (bây giờ là chi nhánh một ngân hàng lớn) bịt mất. Phía đường Ama Trang Long thì nhà dân phố chợ ọp ẹp ván gỗ và cửa hàng vàng bạc kính gương sang trọng chèn lấp sau bao biến động. Chả còn ai qua lại nữa. Cái sức sống từ chợ luồn vào theo con hẻm vào từ phía Nguyễn Quang Trung thuở nào đã mất. Hẻm vắng không còn nhưng người đàn ông Tàu già ngày ấy như vẫn còn. Đã đàng hoàng mặt tiền nhà cuối Phan Bội Châu, vẫn cha truyền con nối cái nghề ấy. Người con dâu vẫn ngồi lặng lẽ trước nhà mỗi tối, anh con trai lăng xăng bưng bê cho những cặp tình nhân trẻ bây giờ những chén chè đen nhức mắt, vẫn dịu dàng mùi mè ngầy ngậy béo hồi xưa. Tôi đã có lần không chịu nổi cái hồi xưa ấy, tạt vào làm quen và làm giọt rượu tràn đêm cùng người con trai ôi a đến sáng, tìm lại những dấu vết đã trôi đi. Đã trôi đi như tuổi tên người. Có những điều còn lại. Một điều tôi sẽ kể sau khi bạn đọc cùng tôi nhớ lại một thôi dài. Con đường Nguyễn Thái Học (bây giờ là đường Điện Biên Phủ) ngày trước vẫn xuyên suốt, không bị đứt quãng ở chợ bây giờ. Nửa quay lên đường Y Jut là đình Lạc Giao (với cây đa trăm tuổi bao nhiêu rễ phụ tua tủa râu ria bạc trắng và muôn ngàn chú sóc mà mãi gần đây theo gió mưa mới đổ, chắn ngang cả đường Lê Hồng Phong. Ngôi đình huyền thoại của những người Kinh đầu tiên lên xứ Thượng, có mặt trước cả chùa Khải Đoan bằng gỗ quý tuyệt đẹp mà đức Từ Cung làm cho sau này. Những đứa trẻ bị bỏ hoang thời ấy người ta vẫn ẵm xuống chùa dộng một hồi chuông trước khi mang vào Cô nhi viện Bồ đề. Nửa phía dưới quay xuống đường Tôn Thất Thuyết (nay là Lê Hồng Phong) là ngôi trường Nguyễn Công Trứ. Đây là ngôi trường dành cho các cậu học sinh nam tiểu học mặc quần soóc. Học sinh nữ với váy đầm phồng ra như những búp bê cột tóc với một cọng thun học ở trường Bà Triệu (nay là trường Võ Thị Sáu). Cái kiểu phân chia nam nữ ấy ở cấp một không sao, nhưng lên lớp lớn hơn thường còn lại những huyền thoại ngày xưa Hoàng Thị mà các trường nữ sinh Gia Long áo tím vẫn phơ phất bay trong mộng tưởng một lớp người. Chính đoạn đường Nguyễn Thái Học bị lấp thành chợ ấy, mất hút cả ngôi trường tiểu học ngày xưa, cái khúc vòng quanh từ sân đình Lạc Giao vào sân chợ, nhộn nhịp người mua kẻ bán và một dãy dài những chiếc xe lam cũ vẫn đậu, phả khói nồng nặc và nổ như tiểu liên để chở người và hàng hoá từ chợ ra muôn hướng… hình như có ngôi nhà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sinh ra và sống cùng bố mẹ những năm xưa lăng lắc trước khi về Huế chập chững tiểu học Nam Giao. Sông kia rày đã nên đồng… Những vùng đất sẽ sang trọng biết bao nhờ những tên người. Người nhạc sĩ đã trở thành tài sản của những người yêu âm nhạc Việt Nam đã chôn nhau cắt rốn ở đây. Diễm ngày xưa đã từng đi ngang đấy. Chỉ riêng điều ấy thôi đủ làm những người dân phố núi yêu Trịnh mỗi đêm nến đỏ đèn khuya thêm sương gió vô hồi. 

Thành phố tuổi thơ tôi còn lập loè vó ngựa mà biển bây giờ đã mất. Cái khu đất rộng ở ngã ba đường Ama Trang Long nhìn xuống Lê Hồng Phong hôm nay sừng sững một toà cao ốc đang xây, ngày ấy là bãi đất trống cỏ mọc như vườn, lõm bõm những chiếc xe ngựa thồ uể oải nằm chờ khách. Không như những thổ mộ hoa đèn Đà Lạt, xe ngựa phố núi xù xì ẩm mốc như một chiếc xe tải nhỏ bây giờ, với hai sọt cỏ xanh ngút đàng sau, chất đầy những cô những bà hàng xén và treo đầy thúng giỏ, ngược dốc lọc cọc. Người phu già bao giờ cũng nhảy xuống cho xe nhẹ bớt, rồi vừa đẩy vừa chạy theo tắc họ lung tung ra roi vun vút trên nền âm thanh trơn trợt móng sắt của chú ngựa gầy gõ trên đường tráng nhựa. Cái bến xe ngựa hấp dẫn tôi lạ lùng. Tôi không được vào chơi với những chú ngựa đã tháo yên cương đang rủ bờm tung vó thì chúng theo tôi vào ngủ giấc mơ. Những chú ngựa bay trên hai cánh với chàng hoàng tử cứu nàng công chúa, bỏ lại những tuyệt vọng mỏi mòn với xô nước cám và những xâu cỏ buồn thiu. Mà phố núi buồn nhất lúc nào? Lúc mưa. Đẹp nhất lúc nào? Lúc mưa. Mưa buồn vì không có quần áo khô mặc đi học, dép dính bùn lên tới lưng những giọt đất màu nâu lấm tấm rỗ hoa phải giặt mà chả có cơ số để thay. Mưa vui vì ngày xưa mẹ không nấu cơm, đong gạo dắt tôi đi xuống phía cuối đường Hoàng Diệu bây giờ, để xay bột về đúc bánh xèo. Nhà cửa dưới ấy còn thưa vắng, mỗi ngôi nhà như một khu vườn hoang quay mình ra phố, rào qua quít bằng kẽm gai cũ hay thưa thớt những hàng chè tàu. Ngôi nhà mà mẹ tôi vào xay bột cũng thênh thang với cánh cổng được làm bằng khung gỗ rồi đan lưới kẽm gai, cột và mở ra bằng sợi dây được xoắn lại từ da trâu, cũng kẽo kẹt khi người ta ngang khu vườn như ru võng. Cái cối đá xay tay tưới nước ấy chắc còn là niềm vui cho biết bao gia đình. Miếng bánh xèo áp chót khi đã hết tóp mỡ, mẹ thường rắc ít giá và tráng chảo thật mạnh cho giòn, cuốn lại cho tôi ngồi kế bên chờ ăn thêm để tranh phần yêu thương của mẹ. Của không ngon đông con cũng hết, mẹ thường dỗ sau mỗi lần như thế bằng ánh mắt xa xôi… Ăn xong thoắt cái đã tràn ra đường tắm mưa, vò xé đầu tóc, cầm chặt lưng chiếc quần đùi vì sợ tụt xuống do sợi thun quần đã dãn, rồi chạy đuổi nhau ơi ới. Mẹ đi bắt về đứa nào cũng đã tím tái móp meo. Bắt về rồi chúng tôi cũng vùng thoát. Thành phố tuổi thơ tôi còn biết bao bí ẩn cần khai phá. Thời ấy, những quán cà phê phố núi chưa nhiều, với những cái tên Uất kim hương, Bâng khuâng, Đồng xanh… lạ lùng những giàn hoa giấy phủ leo kín cổng nhìn như một hang động, bên trong vài ánh đèn xanh đỏ và những tranh ảnh không biết đâu hút hồn những đứa trẻ khao khát vén sương mù. Chúng tôi đứng trước quán nhìn vào, chờ người chủ quán ra xua tay một cái là ù té chạy dài và cười nắc phố. Hồi ấy người ta không uống cà phê mà uống cả không gian và thời gian của quán. Bao nhiêu là nước chảy qua cầu, những giọt cà phê không đường đã gieo những hạt giống đậu đen đậu trắng tính cách đầu đời cho đứa trẻ phố núi. 

Nhiều lúc tôi tự hỏi sao mình lại có thể nhớ từ đường Nguyễn Tất Thành sang tít đường Nguyễn Du, có thể bởi muôn ngàn con đường tắt không tên thời ấy Tiên tự nối để có thể về nhà của mình theo ý thích. Những luồng lạch bây giờ không thể nhớ ở đâu, chỉ biết có khi băng cả những khu nhà vườn không rào không cổng, vừa đi vừa sợ những khoảng trống của đêm, ngửi mùi khói ai đốt rẫy mới chiều còn thơm váng vất. Nhắm hướng mà đi hồn nhiên thơ ấu, không phải hỏi nhiều và cong quẹo rối mù theo bảng tên đường của người lớn bây giờ. Có lần nắm tay cũng chỉ để dắt đường mà có kẻ còn hoang vu ngơ ngác. Ngọn đèn đường như mắt người vừa khóc/ trăng đêm vỡ ra trên tóc/ vỡ những điều ta giấu lâu nay… sau này tôi viết cũng khi đi trên con đường đèn vàng cao áp hai chiều đại lộ độ lại ấy với không ít râu tóc ngùi ngùi. Những nỗi đau giúp cuộc đời nhiều chai sạn sau này dịu lại, phải không Tiên? Phố Hoài còn tận xứ Quảng đâu đâu, gọi phố núi là phố Nhớ, được không? Những con phố thương nhớ với những khu vườn mù sương trong mắt người tìm nhau qua tiếng gọi. Tiếng gọi của người con gái dắt người con trai ra khỏi những đồi hoang lạc lối vì mê mải tìm hoa tím dại trong sâu thẳm chiều đi không hết của Hữu Loan. 

Một trăm năm thành phố dưới mắt nhiều người là những cuộc chuyển dời khủng khiếp, từ Bản Đôn trở về Buôn Ma Thuột đóng đại bản doanh, là những cuộc mở đường xuống đồng bằng lên núi với máy xúc xe reo. Là điểm khởi đầu của chiến dịch **** thần thánh. Mười tháng ba Ban mê ơi xin nhớ/ cuộc chiến tranh chọn điểm tựa là Người/ như Bạch Đằng ngày xưa thành con sông lửa/ đến bây giờ sóng đỏ còn sôi… Một trăm năm để phố núi đã có trường đại học, đã thành thành phố sân bay nhà máy trên cao. Những nền cũ lâu đài đã lui xa nhường chỗ cho những cao ốc mới đầy ánh sáng, làng đã nên phố trong náo nức pha chút bùi ngùi của con người vẫn thật nhiều ảo ảnh. Một chút mênh mang hoài cổ cho huyền thoại có bước chân như gió của chàng tù trưởng ngang dọc trên thảo nguyên này. Thành phố của tôi vẫn tươi ròng niềm vui như đứa trẻ lên mười, yêu như chàng trai mới hai mươi. Em nhỏ môi cong ơi/ hiểu làm sao hết được (thơ Quang Dũng). Cũng như hiểu sao hết tấm lòng của ông già Thuột một trăm năm trước đã cùng với những người con trăm quê cùng nhau xây dựng phố núi, để những linh hồn trú ngụ thành quê hương chứ không còn trôi đi không dấu vết. Bất giác giữa mênh mông gió cuốn bụi mù trời, buồn muôn thuở tuổi thơ tôi lại thấy bà mẹ Thượng ngực trần vú đen gùi con trước ngực, gùi những măng tre bầu bí sau lưng, đi những thôi dài trên những con đường phố nắng sáng như gương. Gió không chỉ cuốn bụi mà cuốn bình minh lên thành những chân trời bảy màu lục lam chàm tím... Những bà mẹ Thượng vẫn tiếp tục sinh ra phố núi, trong mỗi tiếng khóc sơ sinh, trong mỗi hồi sinh tiếp nối, cho cuộc sống thành phố trên cao tồn tại thật mộc mạc thanh bình cả lúc đau đớn nhất. Những chiếc bầu khô của bà mẹ Nữ Oa ở vùng đất Nữ Thần Mặt Trời này vẫn luôn là nguồn nước mát tắm cho những chàng DamSan kiêu hãnh chào đời, thi thoảng vọng lên một tiếng cồng âm âm ông ông u u mang mang gờn gợn. Mang mang như giấc mơ thần sông, thần rừng bí ẩn… của tuổi thơ phố núi thở hơi ấm một trăm năm qua. Một trăm năm phố núi đã sáng tạo ra cuộc sống cho chính mình từ những thế hệ nối nhau mơ giấc mơ trẻ con khắc khởi mà kiêu hãnh ấy.

NGUYỄN KHẮC THẠCH



SỰ VẮNG MẶT NỖI BUỒN TRONG THƠ HIỆN ĐẠI

Có một thời người ta kì thị, qui kết nỗi buồn trong đời sống văn học nghệ thuật nói chung và với thơ nói riêng. Có những nhà văn đã phải gồng mình lên tiếng đòi “quyền được buồn” cho thơ. Song, đáng buồn hơn mọi nỗi buồn lại là sự nực cười về trò hề đội lốt tự do sáng tác trong cái mũ cối “an ninh tư tưởng”! Đến “tư tưởng” cũng phải “an ninh” thì nỗi buồn còn biết bấu víu vào đâu. Vậy nhưng trong thực tế, trên thi đàn vẫn luôn hiện diện một dòng thơ u buồn tĩnh mặc bên dòng thơ hoan hỉ chủ lưu. 

Đến nay, sau hơn hai thập kỉ tương tác trong công cuộc đổi mới đất nước, các quan niệm và quan điểm sáng tác có phần cởi mở hơn, nỗi buồn được tùy thị hơn thì bóng dáng nó không còn thấy trong thơ. Nỗi buồn đã đi đâu? Có thể có nhiều nguyên nhân nhưng chắc chắn đến giờ không còn là vấn đề cơ chế nữa (mặc dầu cơ chế đã từng làm thui chột nỗi buồn) mà có lẽ do hệ lụy tương thuộc mang tính thời đại chi phối. Nước ta thuộc hạng chậm phát triển nhưng do hiệu ứng của xu thế toàn cầu hóa nên những gì thế giới đã là thì chúng ta cũng đang là. Chức năng dự báo và tính thóc mách của sứ mệnh văn học đã sớm đưa các thủ thể sáng tạo thò tay vào văn cảnh hiện đại và kiễng chân lên sàn diễn hậu hiện đại. Các thi phái cách tân, thăm dò, thể nghiệm noi nhau ngụp lặn trên các dòng hợp lưu thơ thời thượng nhưng ở đấy họ cũng chỉ vớt lên được xác ướp những con chữ vô hồn. Nghĩa là những tác phẩm thơ ấy chỉ có xác mà không có hồn. Phần xác chỉ là phần truyền thông, phần hồn mới là phần truyền cảm. Thơ không có hồn thì không có sức lay động và năng lực chia sẻ. Chia sẻ là thuộc tính của nỗi buồn. Nỗi buồn là quyền năng của lòng quyến niệm. Một đám tang dù không có “áp lực” của thiệp mời như đám cưới nhưng người ta vẫn lặng lẽ đến phân ưu. Theo quan niệm mĩ học thì nỗi buồn là cái Đẹp trong sự đổ vỡ của nó. Thơ chính là cái đẹp nhưng khi trong thơ không ẩn chứa nỗi buồn thì cũng có nghĩa nó đã đánh mất cái “bùa duyên” quyến rũ nội tại. Do vậy thơ không còn tư cách là đối tượng thẫm mĩ của các chủ thể thụ hưởng. Mặt khác, tâm thế con người trong xã hội tiêu dùng đã ngập ngụa thông tin như ngày nay thì dường ai ai cũng đã bị vô cảm, bị bội thực trước mọi buồn vui trần thế. Thơ hay nghệ thuật nói chung đối với họ chỉ còn là trò tiêu khiển, là một diễn trình ngữ cảnh mang tính hội hè chung cho cả “kẻ cho” và “người nhận”. Bởi vậy Nghệ thuật sắp đặt hay Thơ trình diễn đã thành “mốt” trong giới trẻ mà giới trẻ ở thời nào, ở lĩnh vực nào cũng mang trong mình sứ mệnh đào mồ chôn lớp trước. Tương lai thơ sẽ tùy thuộc vào họ.

Sự vắng mặt nỗi buồn trong thơ hiện đại là thông điệp cảnh báo trạng thái sống mất thăng bằng hay trạng thái tâm thần của xã hội. Một xã hội đã trở nên què quặt trong tổng hòa các quan hệ giả danh tà kiến. Nói vậy không có nghĩa thời chúng ta đang sống không có nỗi buồn. Ngược lại quá nhiều nỗi buồn. Song thật trớ trêu, đấy toàn là nỗi buồn rác, không có nỗi buồn sạch. Môi trường sống của xã hội hiện đại bị ô nhiễm từ mọi phía, mọi lĩnh vực, mọi cảnh giới và từ tâm đến vật. Nó là môi trường của chủ nghĩa vật bản chứ không phải của chủ nghĩa nhân bản. Có thể gọi đó là môi trường rác. Thơ dị ứng với những gì uế tạp giả dối. Nỗi buồn thơ phải là nỗi buồn hướng nội để thanh lọc, hướng ngoại để thăng hoa. Ai đó đã nói rằng, người ta chỉ có thể cất lên tiếng hát vì sự mất tình chứ không ai hát được vì sự mất của. Tình là cái trong mình, của là cái ngoài mình. Con người ngày nay mang vác quá nhiều thứ, quá nhiều cái ngoài mình. Họ như con lạc đà đi trong sa mạc không có đích. Chỉ khác là lạc đà thì đi trong sa mạc cát còn con người thì đi trong sa mạc rác. Và thật bi hài cho con người vì chính cái mà họ mang vác đó có khi cũng chỉ là rác mà thôi. Người Việt chúng ta nghèo hèn nên ngoài thứ rác do mình làm ra lại còn phải “ăn” cả rác từ nước ngoài nhập về. Những gì sản sinh từ nước ngoài đã lỗi thời họ không xài nữa mà mình đem về đều gọi là “rác ngoại”. Rác ngoại vẫn là thứ rẻ tiền được người Việt ưa chuộng. Gần đây, một Giáo sư Hán học người Đức, ông Wolfgang Kubin đã nhận định văn học đương đại Trung Quốc chỉ là thứ rác rưởi. Tất nhiên chúng ta dịch và đọc các nhà văn Mạc Ngôn, Vệ Tuệ, Miên Miên, Thiết Ngưng, Cao Hành Kiện, v.v… trong khi tác phẩm của họ vẫn còn “đất dụng võ” ở nước sở tại. Chỉ sợ những gì người ta đã hết thiêng mà mình tôn thờ. Sao ông GS người Đức ấy không nói ra sự thật tại Đức đã từ bỏ cái “Đại tự sự”do chính họ vẽ ra và đến giờ nó vẫn còn làm “rác thống trị” ở nước khác? Đấy cũng là một nỗi buồn lớn nhưng nó thuộc về “cái bi hài”của sân khấu chứ không phải cái “bi” của thân phận. Có lẽ cái bi thân phận, cái “tiểu tự sự” mới là nỗi buồn của thơ. Mặt nào đó, có thể từ cửa sổ tâm linh, nỗi buồn cũng chính là Nàng Thơ trong hợp thể tình yêu ba ngôi Trao – Nhận – Trả mà Thiên Chúa đã mặc khải cho con người. Khi nỗi buồn hay nàng thơ đã mai danh ẩn tích thì quan hệ trao nhận trả ấy đã đỗ vỡ hoặc chỉ còn một phía. Chủ thể sáng tạo không còn nguồn thi hứng và họ phải vận trí lí tác nghiệp như một diễn trình nhân bản vô tính thụ tạo tác phẩm thơ. Mọi sinh thể được phôi thai trái với tự nhiên, trái với truyền thống đều yếu ớt và đoản mệnh. 

Đương nhiên thơ không thể tách ra khỏi hệ lụy chung của một tồn thể trong cùng thời gian không gian tương thuộc. Mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều có sự tạo tác tương ưng theo luật duyên khởi hoặc theo thuyết duy thức học. Xã hội nhân loại đến ngày hôm nay dường như đã mãn kì “sinh trụ” của nó. Một xã hội mà Đạo đã đến mạt pháp, Đời đã đến mạt kiếp thì Thơ còn có ý nghĩa gì?

***

Thơ của NKT

Dòng sông một bờ

Có một dòng sông mang tên em,
Dòng sông anh tự đặt
Xin mùa thu chiếc lá làm thuyền.
Có một dòng sông trôi vào lãng quên,
Nước trong như nước mắt
Điều chưa đến mà sao thấy mất?
Có một dòng sông chỉ có một bờ,
Phía bờ kia quay mặt.
Dòng sông anh không qua được bao giờ...


Monday, 26 May 2014

Hồ Minh Tâm



Từ điển ban mai

Sự sống bắt đầu từ buổi sáng
bên ô cửa mới
gió luồn từng trang lao xao

chúng ta
[anh và gió và ngoài kia và trong này và thì thầm và những và khác...]
gánh ngày đi qua ngày
mỗi bước chân là một miếng vá
trái đất làm gì nên tội
mà chằng chịt tiếng cười
mà cặm cụi
quay

chúng ta
những mồi lửa thế kỷ trước
đốt nhau để tìm mình
anh tựa khói sương vướng vờ ngoài cửa sổ
em ấp úng cơn mưa làm trở giấc đêm

chúng ta
những ký tự bỏ quên
[rất may: quên là một thuộc tính cần cho sự mới mẻ tồn tại]
từ điển về con đường nhoè dấu
ngón & gót
[lại may: con đường không lặp lại!]
Và,
ta đọc nhau

chúng ta
[ngoài anh và em và những thứ đất trời to tát]
còn nhiều li ti khác nữa
...
viết đè lên nhau

----------

Em

...thì đương nhiên là của em, nhể?

gọt đẽo đời rất thương của đời
thành một đời rất thường khác
gọn
sắc
gân
và lõi
em mần thơ
...
em trét chữ quanh tròn mùa tuổi
kiễng hai chân rồi nhón một ước ao
xoay xoay
nghe trời 20 ca hát

mỗi buổi sáng em tô chút son lên môi ngày
đêm về
tiếng thở riêng ngập ngừng màu điệu bộ

sự hoang vắng của lửa
bùng loá hoài nghi


--------------

Chẳng biết làm sao
và tôi nhìn ra cửa sổ
gió ngược chiều xanh
chẳng thế vay mượn tâm hồn của nó
tôi nhắm mắt
[tự kỷ âm thầm!]

trong cơn mơ vặt
bạn tôi — thằng giỏi gái
nó rủ rỉ bên tai — hãy đặt mắt vào gáy
tôi mở mắt
và, y như thật
có cái liếc xẹt qua
tôi và một mây xa
ửng đỏ...

vẫn chưa biết làm sao
bất đầu khó thật
chiếc xe dừng lại
nàng bước xuống không hề lôi kéo tôi bằng một cái nhìn khả dĩ
ơ hay
thế có phải tôi mất nàng
từ đó ...






Lê Minh Phong


 Chim và người  sơn dầu trên bố, 60x80cm, 2013
                ( tranh củaLê Minh Phong )

                                                                     
Đừng đi





Em.

Đừng đi. Làm ơn.

Anh đã tưởng tượng.

Anh đã tưởng tượng đêm tối chính là tóc em. Nhưng khi anh vuốt lên mái tóc đó thì bóng tối biến thành mực đen nhỏ xuống mắt anh.

Anh.

Anh à. Mười năm qua em không thấy quê hương.

Tóc em rối quá. Anh thì thào trong đêm. Và giữa đêm khuya anh đã mở toang lồng ngực để những đám mây ấy bay đi. Chúng sẽ bay là là trên những cuộn thép gai đầy máu trước khi tan biến vào điểm giao nhau giữa sáng và tối.

Mười năm qua em đi đâu? Anh yêu những giấc mơ ấy của em. Những giấc mơ rất lạnh lùng và cả những giấc mơ rất nồng ấm.

Đôi khi anh mở toang thịt da mình ra nhưng anh vẫn không nhìn thấy được mình.

Và em ơi, ngoài kia, chắc bông lau đã nở trắng trời.

Thế giới ngoài kia có những cánh của rộng lắm phải không em? Mỗi lần nhìn thấy những cánh cửa xuất hiện trên những bức tường phía trước anh lại đứng dậy và bước đi. Rồi anh chạm phải những giới hạn. Thịt da anh dính chặt vào tường. Những vòng xích dưới chân anh rung lên chát chúa. Anh lại hoan lạc với những vết lở loét trên thân thể đỏ lòm thịt thơm.

Anh. Không có một rừng lau nào cả, không có một đồi lau nào cả, một bông lau cũng không. Màu trắng đó không có thực. Anh quay về đi.

Về đâu?

Trong ngực anh có một con chim nhỏ. Anh đặt tên nó là Mây trời bữa nọ. Anh hỏi nó về những bông lau, về những rừng lau và về người con gái cài hoa lau trên tóc. Nó nói với anh về những ảo ảnh, về những điều ngụy tạo và những giấc mơ đầy mộng mị dối lừa.

Em đừng đi. Mười năm qua anh đã chờ đợi.

Và ngoài kia bông lau lại nở trắng trời.

Những vòng xích ngày càng lún sâu vào da thịt anh. Anh ngợi ca những vòng xích dưới chân anh, anh ru những vòng xích trên cổ anh im ngủ. Anh hát cho chúng nghe về những đám mây trên chiếc cầu vồng đa sắc đàng điếm.

Anh. Thức dậy đi. Quay lại đi.

Họ lại mang đến cho anh những vết chém. Họ nói anh hãy ngốn nó và đừng bao giờ mơ mộng nữa. Anh đắp những vết chém đó lên ngực anh. Anh nghe chúng nói về những tiếng gào trong đêm, về loài sâu im ngủ trên những đồi lau và về cả những ngục lao tăm tối.

Ngoài kia chắc bông lau đã nở trắng trời.

Mười năm qua em đã đi đâu? Chân trời đó rộng lắm phải không em?

Và bây giờ em đã trở lại. Nhưng em nói em sẽ bỏ đi. Cứ đi đi nếu điều đó làm em vui. Còn anh, anh vẫn ở đây hát ru những vòng xích và ăn những vết chém mà họ mang tới cho anh. Anh sẽ làm tình với những vết chém đó để chúng được sinh sôi. Và những vết chém mới sâu hơn sẽ ra đời. Anh sẽ có hàng trăm ngàn vết chém. Chúng nô đùa trên tóc anh, chúng chui vào mắt anh và nhảy múa. Chúng sẽ nói với anh về những ảo tưởng và về cái thói mơ mộng nhà quê nghèo nàn của anh. Anh rải chúng khắp trần gian. Anh nói với chúng: hãy đi tìm em, hãy bám lấy xiêm áo của em và nói với em về tình yêu, về lòng trắc ẩn và về những tiếng cuồng nộ trong mắt anh.

Đừng.

Đừng đi. Mọi thứ tự dưng mờ quá em ơi.

Váy em còn đó phải không? Đốm sáng nhỏ nhoi đó là váy em phải không?

Nếu em biến mất anh sẽ thét lên và anh sẽ thức giấc. Anh không muốn mình thức giấc. Anh không thể ngốn thêm một vết chém nào nữa. Hãy để anh ở lại với những giấc mơ không hình dạng của anh. Hãy để anh được nhìn em cài hoa lau trên tóc.

Đừng bắt anh nhìn thấy những song sắt ấy, những bờ tường đầy máu ấy. Anh sẽ lại phải đập đầu vào tường đá, phải nghe tiếng máu anh phun ra và nghe trong tim mình mòn ruỗng.

Anh, mười năm qua em không thấy quê hương. Thức dậy đi anh. Em sẽ nói với anh về những đám mây đó. Những đám mây đó được làm bằng gì anh biết không? Chúng được làm từ những giấc mơ màu trắng của anh. Chúng không có thực.

Hãy để anh ở lại với những giấc mơ của anh. Đừng đi. Anh hứa sẽ nói với em vì sao anh gọi em là người con gái cài hoa lau trên tóc.

Và mình sẽ cùng nhau viết nên huyền thoại của chúng mình.

Được không?



Chùm Ảnh sao băng ngày 24/05/2014

Sao chổi 209P/LINEAR đã tạo ra trận mưa sao băng vừa qua vào ngày 24/05. Nơi quan sát lý tưởng là tại Canada và phần lục địa của nước Mỹ

Sao băng tạo bởi sao chổi 209P/LINEAR. Tác giả: BG Boyd
Nhiếp ảnh gia BG Boyd đã chụp được bức ảnh của sao băng Camelopardalid tuyệt đẹp này từ Tucson, Arizona vào sáng sớm 24/05. Trận sao băng vừa qua được tạo ra từ bụi của sao chổi 209P/LINEAR

Tác giả: Gail Lamm
Một sao băng nhỏ khác Camelopardalid vụt qua trên ánh sáng ở phía bắc của dải Ngân Hà chụp bởi Gail Lamm tại Balmoral,Manitoba ở Canada.

Credits: NASA
Một sao băng rực sáng như sao Mộc vụt qua bầu trời chụp bởi camera của Nasa.

Tác giả: Eric Teske
Nhà quan sát bầu trời  Eric Teske tại  Brownsburg, Indiana đã chụp được bức này cũng vào sáng sớm 24/05.

Tác giả: Malcolm Park
Sao băng sáng khác bay qua trên bầu trời chụp bởi Malcolm Park 

Tác giả: Bill Longo
Nhà nghiên cứu sao Bill Longo đã chụp được ảnh này trong suốt trận mưa sao băng vừa qua.

Tác giả: Bill Longo
Một ảnh khác cũng được chụp bởi Bill Longo

Tác giả: Malcolm Park
Malcolm Park  đã chụp được cùng lúc 2 sao băng bay qua từ Toronto, Canada.

Nguồn: Space.com

Saturday, 24 May 2014

My Paintings



David Hinnebusch
Neo- California Expressionism by Los Angeles Artist David Hinnebusch








Thiên đường hay địa ngục



Ryan Gosling trên phim trường Lost rive

Được biết đến như Liên hoan phim dành cho những bộ phim nghệ thuật, Cannes thường gắn liền với những tên tuổi lớn như đạo diễn Terrence Malick, Ken Loach, Michael Hanake, Kim Ki-duk... Những diễn viên lừng danh như Nicole Kidman, Charlotte Gainsbourg, Isabelle Huppert… 
Tuy nhiên, bên cạnh những gương mặt kỳ cựu thì LHP Cannes 2014 còn có cả những đạo diễn, diễn viên trẻ thời thượng. Họ xuất hiện tại Cannes không chỉ để tạo dáng trên thảm đỏ mà còn tham gia trực tiếp trong những bộ phim được trình chiếu như một cách để khẳng định đẳng cấp nghề nghiệp của mình.


Từ hy vọng…

Có lẽ Cannes sẽ bớt ồn ào hơn nếu không có họ, những ngôi sao trẻ. Ryan Gosling mang đến bộ phim đầu tay do chính anh làm đạo diễn mang tên Lost river, tranh giải ở hạng mục Un certain regard. Ma cà rồng Robert Pattinson của Chạng vạng vốn được khán giả tuổi teen ưa chuộng, đến với Cannes lần này qua vai diễn trong phim Map to the stars của đạo diễn David Cronenberg và The Rover của David Michod. Trong khi đó, bạn gái cũ của anh là Kristen Stewart cũng có một vai diễn trong phim Clouds of sils maria. Nam diễn viên điển trai Ryan Rynold cũng đến Cannes với vai diễn bộ phim The captive.

Từng nổi tiếng trong vai trò diễn viên qua các phim như The Notebook, Blue Valentine, Drivenhưng dường như điều đó chưa đủ đối với Ryan Gosling. Bộ phim Lost river đánh dấu sự chuyển hướng sang vai trò đạo diễn kiêm viết kịch bản của diễn viên tài năng này. Phim kể chuyện một bà mẹ đơn thân, phải vất vả kiếm sống trong thế giới ngầm để nuôi 2 đứa con nhỏ. Một ngày, trong thế giới ngầm đó, đứa con tình cờ phát hiện ra một lối đi dẫn đến một ngôi làng dưới lòng sông.

Robert Pattinson trên phim trường "Map to the stars"

Với cặp đôi một thời của phim Chạng vạng thì khác. Cả Robert Pattinson và Kristen Stewart đều nổi lên như những ngôi sao tuổi teen, thích hợp với loại vai diễn lãng mạn mà chỉ cần xuất hiện thôi cũng đủ khiến công chúng trẻ ồ lên thích thú. Tuy nhiên, với việc tham gia vào một bộ phim được trình chiếu ở Cannes, chắc hẳn cả hai đều muốn thoát khỏi khuôn mẫu quen thuộc của mình để thể hiện một vai diễn có chiều sâu hơn, có chất điện ảnh hơn.

Trong Map to the stars, Robert Pattinson đóng vai anh tài xế, một vai diễn nhỏ và không mấy liên quan đến nội dung câu chuyện. Dù vậy, đạo diễn Cronenberg vẫn dành tặng anh lời khen vì đã đóng tròn vai.

Với Kristen Stewart, cô tham gia bộ phim Clouds of sils maria với vai trợ lý cho một diễn viên nổi tiếng (Juliette Binoche). Phim kể về một nữ diễn viên ở đỉnh cao sự nghiệp, bỗng cảm thấy cả thế giới như sụp đổ khi một cô gái trẻ được giao đóng một vai diễn từng đưa cô đến thành công. Cũng như Robert Pattinson, vai diễn của Kristen chỉ là một vai nhỏ không mấy phức tạp, nhưng được làm việc bên cạnh đồng nghiệp gạo cội như Juliette Binoche cũng là một cơ hội tốt để cô có thể học hỏi về nghề.

Nam diễn viên điển trai từng được biết đến với những bộ phim giải trí ăn khách như Proposal, Safe… Ryan Reynold cũng đến Cannes với bộ phim The Captive, trong đó anh đóng vai một người cha tuyệt vọng tìm kiếm đứa con gái bị bắt cóc từ 8 năm trước.


Đến thất vọng

Có thể nói, ai đến với Cannes cũng đều mang một hoài bão được khẳng định tài năng nghệ thuật của mình. Tuy nhiên, hy vọng thì nhiều mà thất vọng cũng không ít. Cannes là một sân chơi đầy nghiệt ngã mà đôi khi đòi hỏi người tham gia phải có bản lĩnh mới đứng vững được trước những ê chề.

Bộ phim đầu tay của Ryan Gosling trước khi công chiếu từng được báo giới đặt rất nhiều kỳ vọng, nhưng sau đó đã phải nhận không ít gạch đá từ phía khán giả. Một số tờ báo đã không ngại chỉ trích Lost river là bộ phim thất bại toàn tập, nhạt như nước ốc từ nội dung đến hình ảnh. Trước những chê bai dành cho đứa con đầu lòng, Ryan Gosling vẫn tự tin sải bước trên thảm đỏ, giao lưu và ký tặng người hâm mộ.

Kristen Stewart trong phim Clouds of sils maria 

Có lẽ điều mà cả Robert Pattinson cũng như Kristen Stewart mong muốn là thoát khỏi quá khứ của Chạng vạng nên dù cùng đến Cannes nhưng cả hai đều có những kế hoạch riêng và thậm chí còn không chạm mặt nhau. Nhưng những gì mà truyền thông đưa tin về họ hoàn toàn không phải là vai diễn mới, không hề có tính chất chuyên môn, mà chỉ là những bài báo đồn đoán về mối quan hệ hiện tại, liệu họ có bí mật gặp nhau hay đã hoàn toàn đường ai nấy đi.

Còn với Ryan Reynold, thay vì lấy lại điểm sau một loạt những bộ phim dở tệ như Green Lantern, R.I.P.D, nam diễn viên này tiếp tục bị la ó, chỉ trích do bộ phim của anh bị gọi là thảm họa, lố bịch, thô bỉ. Sau buổi công chiếu, Ryan đã không dự tiệc mà bỏ đi cùng vợ Blake Lively. Một nguồn tin đã nhận xét trên các trang mạng: “Không có gì ngạc nhiên khi anh ta bỏ qua buổi tiệc sau công chiếu, bởi bộ phim đã nhận được những bình luận thật tồi tệ”.

Thursday, 22 May 2014

Thơ CHÂN PHƯƠNG

  
 Trung tuần tháng 5 đi  Hull Garden Club mua mớ hoa kiểng trong chậu về trồng...Sau mấy hôm mưa nắng, một góc vườn nhỏ hóa thành bức tranh đẹp mắt... Hơn thế, người làm vườn còn thu hoạch được bài thơ tặng các bạn yêu hoa cỏ thiên nhiên... CP.






BÀI THƠ NGƯỜI LÀM VƯỜN


làm vườn ngày nắng
làm vườn ngày mưa

bản thảo của tôi là mặt đất
bút cọ là cuốc thuổng

ôn từng ngày văn phạm thời tiết
luyện ngữ học hạt giống cùng chồi rễ

niên lịch thảo mộc tạo niềm vui
chu kỳ sinh thái tặng nỗi buồn

hát ca khúc chóc chim
múa vũ điệu ong bướm

bốn mùa tặng nền tranh
hoa lá cho màu sắc

thi đua với hóa công
làm đẹp thêm trái đất


CHÂN PHƯƠNG