Sunday, 30 March 2014

Ánh sáng lâu đời nhất trong vũ trụ

Vũ trụ mà chúng ta đã sinh ra từ một vụ nổ như thế nào?

Đây là câu hỏi đã thách thức rất nhiều nhà khoa học. Mô hình chuẩn của vũ trụ học, cho chúng ta biết toàn bộ vũ trụ của chúng ta được tạo bởi một sự kiện vô cùng ấn tượng, vụ nổ Big Bang. Những ý kiến hiện đại cho rằng vụ nổ Big Bang không hoàn toàn giải phóng năng lượng đồng nhất. Ngay sau Bigbang, có những vùng mật độ ánh sáng xuyên qua sự hỗn loạn sôi sục là khác nhau. Sự dị hướng nhỏ này đã trở thành sự hình thành cấu trúc vũ trụ của chúng ta như ngày hôm nay trước thời kỳ rất nhanh của sự lạm phát vũ trụ. Kết quả là, những sự biến động nhỏ này về nhiệt độ và mật độ đã trở thành hạt giống của các ngôi sao và các thiên hà ngày nay. Một kính thiên văn của cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã ghép nối tạo thành bản đồ từ những sự dao động nhỏ và cổ xưa này với độ chính xác hơn trước kia rất nhiều.
Bản đồ mới về bầu trời: tính bất đẳng hướng của CBM được quan sát bởi Planck. CBM là bản chụp đời nhất của ánh sáng trong vũ trụ, dấu vết trên bầu trời khi vũ trụ khoảng 380 000 năm tuổi. Ảnh: ESA
Đạt được điều này là bởi kính thiên văn vũ trụ Planck của ESA, bản đồ chi tiết nhất từng được tạo ra này về nền vi sóng vũ trụ (CBM) in dấu trong Vũ trụ khi mà nó chỉ khoảng 380 000 năm tuổi. Trở về thời kỳ đó, vũ trụ non trẻ được lấp đầy bởi những dòng "soup" cực đặc, nóng của các proton, electron, và photon tương tác nhau vào khoảng 2700 độ C. Khi mà các điều kiện đã cho phép các proton và electron tương tác với nhau tạo thành nguyên tử Hydro, các photon thì được di chuyển tự do. Khi vũ trụ được mở rộng, các photon đã bị kéo dãn ra thành các bước sóng dài hơn. Ngày nay, chúng ta quan sát chúng như là các bước sóng vi sóng, tương đương ở nhiệt độ trên 2.7 độ Kelvin (trên độ không tuyệt đối 2.7 K). Bản đồ mới của nền vi sóng vũ trụ này cho thấy những dao động nhỏ của nhiệt độ tương ứng với những vùng có mật độ cao hơn hoặc thấp hơn. Các biến động này đã dẫn đến cấu trúc vũ trụ như ngày nay. Nếu không xảy ra những biến động này của vũ trụ, có thể chúng ta cũng đã không tồn tại. Một Big Bang hoàn toàn đơn điệu có thể đã dẫn đến một vũ trụ thật tẻ nhạt không có thiên hà, các ngôi sao, các hành tinh, và dĩ nhiên cả con người. Hiểu biết về những sự biến động này rất quan trọng đối với việc nghiên cứu nguồn gốc của Vũ trụ. 
Những gợn sóng vũ trụ xảy ra khi vũ trụ mới khoảng 10E-30 giây. Ảnh: ESA
Bản đồ mới của Planck đã củng cố mô hình chuẩn vũ trụ học với độ chính xác mà trước đây chúng ta chưa từng mơ tới, do đó các số liệu thống kê được chấp nhận trước đây về vũ trụ đã có sự điều chỉnh đôi chút. Kết quả chính tốt nhất từng có trước Planck được tạo bởi máy dò tính dị hướng vi sóng Wilkinson của NASA (WMAP) hoạt động từ năm 2001 đến 2010. Theo như kết quả của Planck thì:
- Tuổi của vũ trụ là 13.82 tỉ năm (kết quả được chấp nhận trước kia là 13.78 tỉ năm). Do đó vũ trụ đã già hơn khoảng 40 tỉ năm!
- Vật chất thông thường, thứ mà tạo nên bạn, tôi và mọi thứ khác chúng ta có thể thấy, tạo nên 4.9 % vật chất trong vũ trụ so với kết quả trước kia là 4.6 %.
- Vật chất tối, thứ vật chất không thể sờ được, vô hình và bí ẩn thống trị lực hấp dẫn của các thiên hà, tạo nên 26.8 % Vũ trụ (trước kia là 24 %).
- Năng lượng tối, thực thể thậm chí còn bí ẩn hơn, lấp đầy không gian vũ trụ và đang gia tốc sự mở rộng của vũ trụ tạo nên 68.3 % còn lại. (Kết quả của WMAP là 71.4 %). Sự tồn tại của năng lượng tối chỉ được biến đến từ năm 1998, một thứ mà rất lạ đối với sự khám phá to lớn về vũ trụ cách đây khoảng 20 năm.
- Hằng số Hubble, tỉ lệ giãn nở hiện tại của Vũ trụ đã được giảm xuống là 67.15 km/s/Mpc (WMAP: 69.32 km.s/Mpc).

Các kết quả từ Planck đã củng cố hầu hết các mô hình chuẩn, một thành công lớn của khoa học, nhưng... độ chính xác của bản đồ Planck quá cao, nó đã mở ra một số điểm đặc biệt của Vũ trụ mà không thể giải thích được bởi khoa học hiện tại:

- Sự dao động nhiệt độ trong nền vi sóng vũ trụ CBM không hoàn toàn đúng với mô hình chuẩn đã dự đoán.

- Mô hình chuẩn giả định rằng Vũ trụ phải rộng tương tự như những gì chúng ta đã quan sát. Đây được gọi là nguyên lý Vũ trụ. Kết quả của Planck củng cố cho kết quả của WMAP đó là bầu trời bất đối xứng. Nhiệt độ trung bình trên bán cầu của bầu trời cao hơn một chút so với nửa còn lại.

- Vẫn lạ thay, điểm lạnh lớn kéo dài trên một vùng trời. Một lần nữa dữ liệu vệ tinh của WMAP tồn tại trước kia được cho rằng do sự sai lệch tạo bởi quá trình đo đạc. Planck đã xác nhận sự bất thường này thực sự có tồn tại.

Các nhà thiên văn học đang trong cuộc đua để giải thích những bất thường này. Có lẽ, trên thực tế Vũ trụ không giống nhau ở mọi hướng, do đó các tia sáng từ nền CBM có thể theo một tuyến đường phức tạp hơn trong vũ trụ so với những gì chúng ta đã nghĩ trước kia, kết quả từ một vài hình ảnh bất không bình thường được quan sát ngày nay. Ngoài ra, có thể năng lượng tối không tác động đều nhau ở mọi nơi. Hay sự lạm phát vũ trụ đã bùng phát như nhau băng qua Vũ trụ? Giáo sư Isaac Asimov đã từng nói: " Cụm từ thú vị nhất để nghe trong khoa học, một trong đó để báo trước những khám phá mới, không phải là 'EUREKA' mà là 'Thật buồn cười'...." . Bởi Planck, các nhà khoa học có một lượng lớn những điều tò mò cần được khám phá.

(Theo ARMAGH PLANETARIUM'S STELLAR BLOG!)

Friday, 28 March 2014

RENÉ MAGRITTE

   Nhà danh họa siêu thực Bỉ - René MAGRITTE - đang được trưng bày ở Houston, Texas. Trước đó, bảo tàng MoMA, New York, đã triển lãm các họa phẩm tuyển chọn của ông;http://www.moma.org/interactives/exhibitions/2013/magritte/#/featured/1.  Sau đó, ông sẽ ra mắt khán giả trong Viện Nghệ Thuật ở Chicago -Art Institute of Chicago. Đây là một loạt triển lãm hồi cố -rétrospective- về một trong số các tài năng tạo hình lớn của tk.20.

 Sinh năm 1898 ở Lessines-Bỉ và mất năm 1967, René-François MAGRITTE bắt đầu học vẽ lúc 12 tuổi và học mỹ thuật ở Viện Nghệ Thuật Hoàng Gia Bỉ tại thủ đô Bruxelles nơi ông trưng bày tranh lần đầu năm 1920. Chịu ảnh hưởng các họa phái Lập Thể, Vị Lai, Trừu Tượng vừa khám phá vũ trụ De Chirico..., bên cạnh sáng tác Magritte cũng suy nghĩ về mỹ học rồi tham gia hăng hái phong trào siêu thực ở Pháp và viết bài " Les Mots et les Images " trong  tạp chí LA RÉVOLUTION SURRÉALISTE (Cuộc Cách Mạng Siêu Thực) in năm 1929 do André BRETON chủ xướng. Tính khí bình lặng, ông ghét những gì liên quan đến bạo lực như chiến tranh, bom đạn... tuy vẫn tham gia kháng chiến khi Hitler chiếm đóng nước Bỉ. Ông từng gia nhập rồi rời bỏ đảng cộng sản năm 1945.


MAGRITTE- Les Mots et les Images (Suy tưởng mỹ học),1929.

 Il y a des objets qui se passent de nom - Có những vật thể không cần danh tính là một nhận định căn bản của thế giới quan Magritte. Như Derrida sau này phê phán logocentrisme - một loại duy danh tính chủ nghĩa đặc trưng của tư tưởng phương Tây khiến cho nhiều người, đặc biệt trong giới hàn lâm tháp ngà, đánh mất khả năng trực nhận sự vật, một số nghệ sĩ -trong đó phải kể Magritte - bằng sở trường của họ là thị giác và sự chiêm ngưỡng vô ngôn đã kết nối lại mối liên hệ thiêng liêng giữa con người và tạo vật. Với óc trào lộng, Magritte nhắc cho ta nhớ lại : giữa danh và vật là mạng lưới của qui ước và mã số văn hóa  mà kẻ sáng tạo cần xé toang để tự giải thoát. Bức tranh cái tẩu chỉ là ước lệ tạo hình, tự nó vốn là hình vẽ chứ chẳng phải cái tẩu thật !



MAGRITTE- Ceci n'est pas une pipe- Đây chẳng phải là cái tẩu, 1928.



  Tranh ông phơi lộ bí mật của sự vật bình dị - mỗi họa phẩm là một bài thơ siêu thực đánh thức ý thức tiền ngôn tự. Cũng như De CHIRICO và Max ERNST, thế giới Magritte là nỗi bàng hoàng nguyên thủy trước vạn vật - tương tự như các CÔNG ÁN Bất Lập Văn Tự !

MAGRITTE - La Géante-Nàng Khổng Lồ, 1935.


 Magritte quan niệm hội họa là nghệ thuật thuần túy thể hiện vật thể nhưng không minh họa hay giải nghĩa. Chẳng hạn ông chê Dali đã lạm dụng biểu tượng tôn giáo làm hỏng chất tinh khiết phi qui ước của tranh hiện đại và không thích tính uyên bác của Picasso - ngoài giai đoạn sáng tác lập thể của nhà danh họa này. Dù chẳng phải là tín đồ tin theo vô thức kiểu Freud, Magritte mượn cọ với màu để lột vỏ hữu thể khiến mặt trái hoặc độ sâu bất chợt lộ diện. Bằng họa pháp tạo sốc tiêu biểu của phái siêu thực, ông vẽ hàng loạt chân dung với hình hài bí hiểm và gây nên cảm giác "lạ hóa" trong khoảnh khắc tiếp cận của người xem tranh.


MAGRITTE- La Maison de Verre- Ngôi nhà thủy tinh,1939.


MAGRITTE- Les Amants - Cặp tình nhân, 1928.

   Magritte có lần tiết lộ với bạn : " Tôi chủ trương không dự đoán trước bất cứ cái gì. Điều tôi sẽ làm trong mọi tình huống lúc nào cũng bất ngờ như sự vụt hiện của một thi tượng thật .../ Ce que je ferai en toute situation est aussi imprévisible que l'émergence d'une vraie image poétique...(Thư gửi Mirabelle Dors và Maurice Rapin, 30-12-1955). Đây là gì nếu không phải là thi pháp và mỹ học siêu thực Magritte đã trực tiếp học lại từ Lautréamont qua thi phẩm Les Chants du Maldoror mà ông đã say mê đọc và vẽ minh họa từ thời trai trẻ.

MAGRITTE - Poids et Mesures - Cân Đong, 1950.

 
MAGRITTE - Megalomania - Chứng vĩ cuồng, 1949.

   Lúc sinh thời, Magritte chỉ có được một vị thế ngoại vi trong giới họa sĩ danh tiếng ở châu Âu, đặc biệt là Paris. Không ít nhà phê bình hội họa đã chê ông, cho rằng họa pháp tạo sốc đã kéo tranh Magritte xuống gần với tranh vẽ bưu thiếp, bích chương quảng cáo... Cho đến thập niên 60 với cao trào mỹ thuật POP ART đề cao vật thể và hình ảnh thông dụng đời thường, giới thưởng ngoạn hội họa mới quan tâm và khám phá lại cõi tạo hình độc đáo của tài năng siêu thực nước Bỉ. Càng ngày càng có nhiều người xem tranh cảm nhận được chất thơ huyền ảo, đôi khi gần như thần bí trong các họa phẩm Magritte. Nếu Rimbaud trước kia từng tôn vinh thi hào Baudelaire là Prince des Voyants, ngày nay ta có thể đặt Magritte trên chiếu của Bậc Vương Tôn trong Cõi Linh Giác bên cạnh Dalí, Miró, Tanguy, Max Ersnt hoặc Paul Klee...Bằng thị giác ngoại hạng và tranh tượng siêu thực, các tên tuổi này đã góp phần thanh tẩy những cặp tròng bị thói quen với biếng nhác ru ngủ, và đánh thức khả năng nhìn ngắm ở khán giả. Có một giai thoại cần nhắc đến trước khi kết bài giới thiệu này : chính Michel Foucault đã đọc thấy tư tưởng mỹ học thâm diệu qua tranh vẽ Ceci n'est pas une pipe và đã viết một tiểu luận triết học về René Magritte vào năm 1968.  Trong tiếng Pháp, bên cạnh từ artiste-philosophe  để ca tụng các vị như Marcel DUCHAMP còn có chữ peintre-philosophe để tôn vinh MAGRITTE cùng các họa gia có tài điểm nhản đánh thức con rồng nghệ thuật trong mỗi chúng ta.                                                                                                                                                                                                                                                          CHÂN PHƯƠNG  Lập Xuân 2014. 


  THAMKHẢO                                                                                                                                                                                                          1. Mary Ann Caws ed., Surrealist Painters and Poets, MIT Press, 2001.                                                                    
2. Siegfried Gohr, Magritte-Attempting the Impossible, D.A.P. Inc. New York, 2009.                                                   
                   3. Jennifer Mundi, SURREALISM -desire unbound, Tate Publishing, London, 2001.                                                                                          4. Harry Torczyner, MAGRITTE - Ideas and Images, Abrams Publishers, New York, 1977.                                      
                      MAGRITTE - L'Art de la Conversation IV- Nghệ Thuật Đàm Đạo IV, 1950.                        

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Ghé thăm "hố tiền" - nơi nắm giữ một trong những kho báu bí ẩn nổi tiếng nhất thế giới.

Cuộc tìm kiếm kho báu nổi tiếng của đảo Oak đã diễn ra gần 200 năm nhưng bí ẩn này vẫn là một bài toán khó đối với hàng vạn nhà nghiên cứu và thám hiểm trên khắp thế giới.

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Đảo Oak nằm ở vịnh Mahone thuộc bờ biển phía Nam Canada là nơi nắm giữ một trong những bí ẩn nổi tiếng nhất của thế giới. Được biết đến với cái tên "hố tiền” (Money Pit), kho báu này đã thu hút vô số kẻ tò mò tìm đến với hy vọng trở nên giàu có.

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Nhiều tài liệu ghi lại cho rằng, vào thập niên 1600, giới săn tìm luôn truyền miệng nhau về kho báu khổng lồ mà gã thuyền trưởng cướp biển William Kidd chôn giấu ở đâu đó “phía Đông Boston“. Một thủy thủ đoàn của William đã tiết lộ điều này, nhưng hắn chưa kịp nói ra địa điểm nơi chôn giấu thì đã mất.

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Một số người cho rằng, đó là một kho báu được chôn giấu, số khác lại khẳng định nơi đây cất giữ chén Thánh huyền thoại. Tuy nhiên, mỗi lần có người cố gắng đào bới tìm kiếm thì hố đất lại tự động sụp xuống như lời cảnh báo và để bảo vệ an toàn cho bí mật nằm bên dưới. Càng tìm kiếm sâu hơn, người truy lùng càng gặp nhiều khó khăn và sự hiểm nguy, đôi khi phải bỏ mạng.

Sau khi phát hiện ra vùng đất bí ẩn với những hố sâu trên đảo, chàng trai Daniel McGinnis với trí tò mò của mình đã rủ hai người bạn cùng thám hiểm địa danh này. Cả ba người đều háo hức khám phá kho tàng hải tặc nhưng họ không biết rằng đã vô tình khơi dậy một câu chuyện không có hồi kết...

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Daniel bắt đầu tự tay mình đào sâu xuống hố đất này và khá bất ngờ khi cứ 3m anh lại đụng phải những tấm ván gỗ. Ban đầu, cả ba vui mừng tưởng rằng đó chính là chiếc rương kho báu, nhưng rồi họ nhanh chóng nhận ra đó chỉ là một thanh gỗ được gắn vào hai bên thành giếng. Sau khi kéo thanh gỗ lên, họ nhìn thấy cái giếng vẫn còn sâu nên tiếp tục công việc, cuối cùng họ đã đào đến độ sâu hơn 7,5m nhưng vẫn chưa thấy gì.

Cuối cùng, ba chàng thanh niên đành bỏ cuộc, lấp cái giếng lại và bỏ đi mặc dù không thôi nghĩ rằng, chẳng ai lại đào cái giếng sâu như vậy mà không cất giấu một thứ gì quý giá dưới đó.

Kể từ đầu thế kỷ XIX, nhiều công ty được thành lập để thực hiện công việc đào bới, kiếm tìm kho báu trên đảo. Với việc tìm ra ngày càng nhiều bằng chứng về “kho báu” chôn giấu dưới lòng đất, hàng loạt những giả thuyết khác nhau được đặt ra.
Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới
Một số tin rằng bọn cướp biển từ xa xưa đã chọn nơi này để chôn giấu của cải cướp được, số khác lại nói, hố sâu này cất giữ số trang sức bị mất sau cuộc cách mạng Pháp của nữ hoàng Marie Antoinette nổi tiếng.

Một giả thuyết khác thậm chí còn khẳng định, cha đẻ của chủ nghĩa duy vật Anh - Francis Bacon đã xây dựng nơi này và lưu trữ tại đây những tài liệu chứng minh rằng ông là tác giả của những vở kịch của Shakespeare.

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Rất nhiều những giả thuyết lớn khác về bí ẩn dưới lòng đất này được đưa ra, một trong số đó là chiếc hòm giao ước - Ark of the Covenant nổi tiếng cũng được cất giữ tại đây.

Mặc dù hàng loạt lý thuyết cùng sự tiên đoán được đưa ra nhưng những người thám hiểm không tài nào chứng thực được chúng bởi chưa ai thành công trong việc đi đến đáy của cái hố này cả.

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới
Rất nhiều giả thuyết về vùng đất bí ẩn này được đưa ra

Khó khăn mà tất cả dù cá nhân hay tổ chức đều gặp phải đó là cấu trúc đất dễ lún, lở của hang. Lại nhắc lại cuộc tìm kiếm của Daniel và những người bạn của mình, sau một ngày đêm đào và chỉ thấy những tấm gỗ, họ đã đi ngủ. Trở lại vào ngày hôm sau, ba chàng trai nhận thấy cái hố đã bị ngập nước và sụt lún.

Sau đó, nhiều công ty và tổ chức đến đây tìm kiếm cũng gặp phải vấn đề tương tự khi việc cố gắng tiến vào sâu hơn bên trong hố chỉ là một cuộc hành trình tốn kém và vô cùng nguy hiểm.

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Các hầm ngập lụt của “hố tiền” này dường như được kết nối với một mạng lưới lớn hơn nhiều chạy ngầm dưới lòng đất. Mỗi khi người ta cố gắng đến gần, nó lại tự ngập bởi nước biển một cách kì lạ đến nỗi nhiều người tin rằng, nơi đây đã bị nguyền rủa.

Tuy vậy, những phần khác của hang động được tìm thấy cũng mang trên mình nhiều hiểm nguy không kém. Một hang động được tìm thấy trong cuộc khai quật được cho là một bẫy mìn. Một đường hầm khác được phát hiện là lối dẫn nước ngập bí mật của hệ thống hang này.

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Vậy tại sao hố sâu bí ẩn này vẫn thu hút hàng trăm nhà thám hiểm đến tìm kiếm? Trong một lần khoan thăm dò trong đường hầm ngập lụt năm 1849, một công ty đã tìm ra giữa đống đất sét và gỗ những mẩu vàng. Hơn thế nữa, một trong những khám phá lớn nhất tại hang này là tập hợp những chữ khắc trên đá nằm khoảng 27m dưới lòng đất.

Những kí hiệu này được dịch ra rằng “Tiếp tục đào 12m phía dưới, bạn sẽ thấy 2 triệu bảng Anh” (khoảng 70 tỷ VND theo tỷ giá hiện tại). Chỉ với một vài bằng chứng đấy cũng đủ thôi thúc nhiều thế hệ người đến đây đào bới với mong muốn tìm thấy cả một gia tài.

Bí ẩn về "hố tiền" nổi tiếng thế giới

Sau vô số nỗ lực, bí ẩn của hố sâu đảo Oak vẫn tồn tại đến ngày nay. Theo nhiều cách khác nhau, các cuộc thám hiểm đã trở thành một phần lịch sử của đảo Oak. Với sự thất bại của những tổ chức cố gắng truy lùng báu vật, vào năm 2010 chính phủ đã cho thông qua đạo luật đảo Oak- cấm tất cả những hoạt động truy tìm kho báu trên đảo từ nay về sau.

Cho dù đó chỉ là một hố đất tự nhiên, hang với đầy đá quý chôn giấu hay là trò lừa điên rồ nhất thế giới thì nơi này sẽ mãi mãi mang trên mình bí ẩn lớn.
Theo Trí Thức Trẻ

Phát hiên thêm một thành viên mới xa nhất trong hệ Mặt Trời

Một báo cáo khám phá mới nhất của một hành tinh lùn tên gọi 2012 VP113, đã được tìm thấy bên ngoài rìa của hệ mặt trời.

Quỹ đạo của các thiên thể xa Mặt Trời. Với Mặt Trời ở trung tâm cùng với các hành tinh khác. Ảnh: Scott Sheppard
Báo cáo mới nhất của hai nhà khoa học Carnegie Scott Sheppard và Chadwick Trujillo thuộc đài thiên văn Gemini về khám phá hành tinh lùn xa xôi này vào ngày 27 tháng 3 trên tạp chí "Nature". Hành tinh này giống như hàng ngàn vật thể xa được hình thành trong đám mây Oort. Hơn thế nữa, báo cáo cũng chỉ ra sự có khả năng hiện diễn  của một hành tinh khá lớn, có lẽ gấp 10 lần kích cỡ của Trái Đât. Mặc dù, chưa được quan sát thấy, nhưng khả năng ảnh hướng lớn của nó khi tác động đến các vật thể khác trong đám mây Oort.

Như đã biết hệ Mặt Trời được chia làm ba phần: các hành tinh đá gần Mặt Trời , các hành tinh khí ở khoảng cách xa hơn, và các thiên thể đóng băng trong vành đai Kuiper nằm phía ngoài quỹ đạo của sao Hải Vương. Ngoài ra, còn sự xuất hiện của một vật thể duy nhất Sedna ở rìa của hệ Mặt Trời. Nhưng khá phá mới về 2012 VP113 với quỹ đạo của nó xa hơn Sedna, khiến nó trở thành đối tượng xa nhất trong hệ Mặt Trời. 


"Đây là kết quả khá bất ngờ để xác định lại sự hiểu biết của chúng ta về hệ Mặt Trời", Linda Elkins-Tanton, trưởng bộ phận địa từ học của Carnegie cho biết.


Sheppard và Trujillo đã sử dụng Camera quan sát năng lượng tối (DECam) trên kính thiên văn đường kính 4 mét NOAO ở Chile cho khám phá này. DECam có độ quan sát rộng hơn bất kỳ kình thiên văn 4 mét hay kính thiên văn nào lớn hơn, cho phép nó có khả năng chưa từng có để nghiên cứu các khu vực rộng lớn tìm các đối tượng mờ nhạt. Kính thiên văn 6.5 mét ở đài thiên văn Las Campanas thuộc Carnegie cũng được sử dụng để xác định quỹ đạo của 2010 VP113 và đạt được thông tin chi tiết về đặc tính bề mặt của nó.


"Một số đối tượng trong đám mây Oort có thể là đối thủ về kích cỡ so với sao Hỏa hay thậm chí là Trái Đât. Do nhiều đối tượng trong Oort quá xa mà thậm chí đối tượng rất lớn có thể khá mờ nhạt để nghiên cứu so với công nghệ hiện tại của chúng ta" Sheppard cho biêt.

Cả Sedna và 2012 VP113 được tìm thấy gần với sự tiếp cận của chúng đối với Mặt Trời, nhưng cả hai đều có quỹ đạo xa hàng trăm đơn vị thiên văn AU, mà chúng khá là khó để khám phá. Trên thực tế, tương tự như quỹ đạo của Sedna, 2012 VP113 và một vài đối tượng vần với rìa của Kuiper Belt được cho rằng có cấu hình quỹ đạo tượng tự như thế. Sheppard và Trujillo cho rằng một siêu Trái Đất hoặc thậm chí là đối tượng lớn hơn ở khoảng cách hàng trăm AU có thể tạo ra ảnh hưởng nhiễu loạn trông thấy lên quỹ đạo của những đối tượng này.

Nguồn: Chadwick A. Trujillo, Scott S. Sheppard. A Sedna-like body with a perihelion of 80 astronomical units. Nature, 2014; 507 (7493): 471 DOI: 10.1038/nature13156


(Theo Daily Science)

Thursday, 27 March 2014

Văn chương lạnh


nhà văn Cao Hành Kiện


Theo quan điểm của tôi, thời dấy động văn chương cách mạng đã qua, bởi vì cuộc cách mạng đã tự cách mạng hoá cho đến chết và chỉ để lại toàn là điều cay đắng và một cảm giác mệt mỏi, chán chường, thậm chí buồn mửa.

Từ căn bản, văn chương không có liên hệ gì đến chính trị, nó chỉ thuần tuý là một vấn đề cá nhân. Nó là phần thưởng của hoạt động trí não, cùng với một sự quan sát, một sự nhìn lại những kinh nghiệm, những hồi ức và những cảm giác, hay nó là bức chân dung của một trạng thái tinh thần.

Hoàn toàn vì nhu cầu chính trị, văn chương đã rủi ro trở nên nóng bỏng, và dự vào sự đả phá hay nịnh bợ. Một cách bất khả kháng, nó bị biến thành một công cụ, một vũ khí hay một mục tiêu, cho đến khi nó quên hẳn bản tính tự nhiên của nó.

Kẻ được gọi là nhà văn thì không là gì khác hơn một cá nhân đang nói hay viết, và y được lắng nghe, được đọc hay không là do sự chọn lựa của những người khác. Nhà văn không phải là một người anh hùng hành động theo mệnh lệnh của nhân dân, y cũng không đáng để được tôn thờ như một thần tượng, nhưng chắc chắn y cũng không phải là một tên tội phạm hình sự hay một kẻ thù của nhân dân. Đôi khi y và văn của y “có vấn đề” chỉ vì những người khác muốn tạo ra như thế. Khi các nhà cầm quyền cần tạo ra vài kẻ thù để đánh lạc hướng chú ý của nhân dân, thì nhà văn trở thành vật hy sinh. Còn tệ hơn nữa, có những nhà văn từng bị lừa gạt như vậy lại nghĩ rằng bị hy sinh là một vinh dự to lớn.

Thực ra, mối quan hệ giữa tác giả và độc giả — giữa một người và một người khác, hay một số người nào đó — thì luôn luôn là một mối thông tri tinh thần xuyên qua những văn bản được viết; họ không cần phải gặp nhau hay giao lưu xã hội. Nhà văn không chịu một trách nhiệm nào đối với độc giả, và độc giả không cần phải khống chế nhà văn. Chính độc giả chọn đọc hay không đọc một tác phẩm.

Văn chương vẫn tồn tại như một hoạt động không thể dứt bỏ được của con người, trong đó người đọc và người viết tự ý tham dự. Vì thế, văn chương không có nhiệm vụ gì đối với đám đông hay xã hội; và những phán xét đạo đức hay luân lý bị gán ghép bởi đám phê bình gia thích xía vào chuyện của người khác thì chẳng hề hấn gì đến nhà văn.

Loại văn chương này — loại văn chương đã tìm lại được tính cách nội tại của nó là mở lối cho những cảm nhận của nhà văn và diễn tả những khát vọng của y — có thể được gọi là “văn chương lạnh”, để phân biệt với thứ văn chương xưng tụng giống nòi, đả phá chính trị đương hành, hay cố gắng biến cải xã hội. Văn chương lạnh tất nhiên không tạo nên tin tức trên báo chí và chẳng gây chú ý nơi công chúng. Nó hiện hữu chỉ vì con người tìm kiếm một sinh hoạt thuần tuý tinh thần bên ngoài những ước muốn thoả mãn vật chất.

Loại văn chương này hẳn đã không phải tự nhiên mà xuất hiện hôm nay. Tuy vậy, nếu trong quá khứ nó chủ yếu phải chống lại những thế lực chính trị áp bức và những phong tục xã hội, thì hôm nay nó phải đương đầu với những giá trị đảo lộn mang tính thương mại của xã hội tiêu thụ. Sự tồn tại của nó tuỳ thuộc vào sự tự nguyện chịu đựng cô đơn của nhà văn.

Thật vậy, loại nhà văn này chịu nhiều khó khăn hơn các nhà văn khác. Nếu một nhà văn tự dấn mình vào loại văn chương này, hiển nhiên y sẽ khó kiếm sống và sẽ cần tìm những cách mưu sinh khác. Vì thế, hành vi viết văn loại này phải được xem là một sự xa hoa, một hình thức lạc thú thuần tuý tinh thần. Bất kể một xã hội giàu mạnh đến đâu, nó vẫn là một tấn bi kịch nếu nó không dung chứa được loại sinh hoạt tinh thần này của cá nhân.

Lịch sử chẳng đả động gì đến những tấn bi kịch như thế và chỉ đơn giản ghi lại những sinh hoạt của loài người, hay có lẽ ngay cả không để lại một ghi nhận nào cả. Nếu văn chương lạnh may mắn được xuất bản và quảng bá, thì đó là do chính những nỗ lực của bản thân nhà văn và bạn bè. Tào Tuyết Cần và Kafka là những ví dụ về điều này. Họ đã không xuất bản văn phẩm của họ lúc sinh thời, vì thế ta không thể nói rằng họ viết để gây ra những phong trào văn chương hay để trở thành nổi danh. Hầu như họ chỉ sống bên lề xã hội, dấn mình vào thứ sinh hoạt tinh thần này, và không hề hy vọng được đền bù hay tìm kiếm sự công nhận của xã hội. Họ chỉ hưởng cái lạc thú của cuộc viết.

Sau khi đã kiệt sức vì gần một thế kỷ phục vụ những tôn chỉ chính trị và đạo đức, văn chương Trung Quốc bây giờ lại rơi vào một vũng lầy của những chủ thuyết, những ý thức hệ và những cuộc tranh cãi về các phương pháp sáng tạo vừa chẳng dính dự gì mấy đến văn chương, vừa biến thành một mớ bòng bong không thể nào gỡ rối. Chỉ khi nào thoát ra khỏi những cuộc tranh cãi bất khả tận và bất khả tri nhận ấy, nhà văn mới cứu được chính mình. Từ căn để, sáng tạo văn chương là một công việc cô đơn mà không một phong trào hay tập thể nào giúp đỡ được; chúng chỉ có thể bóp cổ cho nó chết. Chỉ khi nào không bị dính liền với một nhóm hay phong trào chính trị thì nhà văn mới có thể giành được sự tự do hoàn toàn.

Điều này không có nghĩa là nhà văn không có thái độ chính trị và quan điểm đạo đức của mình. Khi phải đương đầu với những áp lực chính trị và xã hội, các nhà văn tất nhiên có những điều để nói, và việc họ đọc diễn văn hay ra tuyên cáo trước công chúng thì hoàn toàn hợp lý, nhưng điều quan trọng là họ không mang những thứ này vào việc sáng tạo văn chương của họ. Tôi tin rằng chính trị và xã hội tuy có thể là đề tài của sáng tạo văn chương, tốt nhất vẫn nên tránh; làm như thế thì gạt được những áp lực xã hội sang một bên và đồng thời thanh tẩy được tinh thần. Vì thế, tôi cũng nghĩ rằng tốt nhất nhà văn tự xác lập vị trí của y ngoài lề của xã hội để có thể lặng lẽ quan sát và suy tưởng, đồng thời hoàn toàn đắm mình vào văn chương lạnh.

Cái nan đề là chiến tranh, cách mạng, những phong trào chính trị và tranh đấu liên tục xảy ra ở Trung Quốc suốt cả trăm năm qua đã tác động đến giới trí thức của đất nước ở mọi cấp độ. Những tiếng nói bất đồng chính kiến chưa từng được chấp nhận, và các nhà văn đã bị cưỡng bách trở thành những kẻ chiến đấu, nếu không thì họ không có cách nào kiếm sống. Họ đã thất bại, không thể cứu được dân, cũng chẳng cứu được nước, và vẫn thường hy sinh tài sản và ngay cả tính mạng của mình. Văn chương lạnh chỉ khả hữu nếu nhà văn có thể thoát khỏi những áp lực của chính trị và xã hội, và cuộc sống của y được bảo đảm. Đây là lý do tại sao văn chương Trung Quốc hiện đại khó trở thành văn chương lạnh.

Vì thế, có thể nói rằng văn chương lạnh cần thoát ly để sống sót; nó là thứ văn chương từ chối bị bóp cổ bởi xã hội để tìm đến sự cứu rỗi tinh thần. Tôi cũng tin rằng nếu một giống nòi không thể dung chứa thứ văn chương phi thực dụng này, thì đó không chỉ là một sự bất hạnh cho nhà văn mà còn là một biểu thị của sự nghèo nàn tận đáy về tinh thần của giống nòi ấy.

Đó là những lý do khiến tôi chủ trương văn chương lạnh.





Lâm Hảo Dũng


Trên chuyến xe hỏa về Blue Mountain New South WalesPosted



Những chuyến tàu đi những chuyến tàu về
Một mình tôi sao còn ở lại ?
Trời mùa đông sắc màu tê tái
Và nỗi buồn như thể chia hai
Những chuyến tàu đi không vướng bụi mù
Những niềm đau lăn vòng quay xưa
Trời dẫn mây bay hoài bay mãi
Vé tàu tôi về bến hoang vu

Chiều buông màn gió thốc lên toa
Dọc đường cây đùa quanh chiếc bóng
Tôi cầm đở sầu qua cửa trống
Phơi hồn đời theo tiếng còi xa

Tàu đi rồi ngày đi cũng vội
Tôi ngồi nhìn đá tảng thâm u
Nhỡ chuyến tàu trên thềm ga cũ
Thân mùa đông tim ngỡ mùa thu…

Rừng dưới kia sầu đi xuống thấp
Sương nhạt mờ trên rặng “ gum” cao
Những vòng quay thanh âm mòn mõi
Tôi đâu về tôi biết về đâu?… (1)

Lâm Hảo Dũng
(PTT)
Vancouver, BC. Jan 26, 2014 – 1H21’ am

(1) Mượn một câu của cô dâu Đài Loan Cấn thị Bích Ngọc: “Biết về đâu, đâu về”

Nguồn: Sáng tạo

Wednesday, 26 March 2014

Liệu chúng ta có thể du hành trong không gian, thời gian?

Nhảy vào giữa các thiên hà thông qua các đường hầm không gian nghe có vẻ điên rồ, nhưng các nhà vật lý vẫn chưa loại trừ khả năng này. Điều này liệu có thể xảy ra, nhà vật lý Marcus Woo đặt vấn đề.



Như chúng ta đã biết vũ trụ là rất rộng lớn. Di chuyển ở tốc độ ánh sáng đến ngôi sao gần nhất cũng có thể mất hơn 4 năm. Mạo hiểm để đến phía bên kia của dải thiên hà? Có lẽ phải mất hơn 1000 năm. 


Một lựa chọn là một đường tắt của vũ trụ gọi là "lỗ thời gian" (wormhole), một đường hầm thông qua các cấu trúc không gian và thời gian mà có thể kết nối đến góc xa xôi của vũ trụ. Đó là lựa chọn của nhiều nhà du hành vũ trụ viễn tưởng, bao gồm cả các nhân vật trong bộ phim sắp tới "Liên kết giữa các vì sao" được đạo diễn bởi Christopher Nolan.

Các nhà khoa học cho biết: di chuyển qua lỗ thời gian có thể sẽ vô cùng khó khăn, nhưng cũng không loại trừ điều này. Vậy nó sẽ như thế nào trong thực tế?

Để có bức tranh về lỗ thời gian, hãy tưởng tượng vũ trụ là một tấm bìa hai chiều. Khoét hai lỗ và đường cong quanh tấm bìa để tạo thành hai cái phễu. Nối hai phễu lại với nhau và bạn có một lỗ thời gian (như hình dưới)


Thay vì tuyến đường dài trong không gian (đường màu đỏ), lỗ thời gian cho phép tạo ra đường ngắn hơn để di chuyển qua (Ống màu xanh). Ảnh: Detlev van Ravenswaay/SPL

Di chuyển trong không gian bằng cách này nghĩa là bạn có thể nhảy đến cuối của lỗ thời gian, di chuyển với khoảng cách ngắn và nhảy sang phía bên kia của dải thiên hà. Miệng của chiếc lỗ thời gian sẽ hoạt động như là một cửa sổ của vũ trụ, cho phép bạn ngắm những ngôi sao ở đầu kia của vũ trụ. 


Đó là thuyết gì đi chăng nữa, các nhà khoa học nói gì về tình khả thi của việc này?

Lỗ thời gian xuất phát một cách tự nhiên từ các phương trình chi phối thuyết tương đối chung, khái niệm mang tính cách mạng của Einstein đã miêu tả trọng lực như là sự uốn cong của không gian và thời gian mà tạo thành cấu trúc của vụ trụ.

Einstein và Nathan Rosen đã xuất bản bài báo miêu tả những lỗ thời gian này vào năm 1935, cuối cùng được đặt tên là "cầu Einstein-Rosen". Những đối tượng kỳ là này mặc dù được cho rằng được tìm thấy trong sự sụp đổ nhanh đến nối ánh sáng không thể chạy qua được. Nhưng chúng là vô dụng đối với du hành thời gian.

Vào những năm 1980, nhà thiên văn học Carl Sagan đã viết trong tiểu thuyết của ông "Sự tương tác" (cơ sở cho bộ phim với sự tham gia của Jodie Foster), trong đó nữ nhân vật chính du hành trong khắp vũ trụ. Ông đã tìm đến sự giúp đỡ của nhà vật lý Kip Thorne để tìm hiểu xem liệu rằng có một cách nào đó nghe có vẻ khoa học để du hành không gian cho nhân vật của mình.

Thorne nhận ra rằng, lỗ thời gian là lựa chọn tốt nhất. Nhưng để đảm bảo lỗ thời gian có thể tiếp tục mở được, ông đã khám phá ra bạn sẽ cần công cụ kỳ lạ đó là vật chất kỳ lạ.

Công việc của nhà vật lý Kip Thorne(bên trái) về lỗ thời gian đã truyền cảm hứng cho bộ phim của Hollywood sắp tời (Giữa các vì sao)
Vật chất kỳ lạ cũng rất kỳ quặc bởi nó có một năng lượng âm và khối lượng âm, cho phép nó chống lại lực hấp dẫn. Nếu trái đất có khối lượng âm, thì bạn đã bay như một quả bóng bay vậy, điều này có thể giúp bạn nảy lên hoặc xuống. Và kỳ là hơn nữa, để đánh một quả tennis với khối lượng âm, bạn sẽ không xoay vợt của bạn đập vào nó mà sẽ là ngược lại đưa vợt đi xa. Điều này cho phép vật chất kỳ lạ có thể ngăn sự sụp đổ của lỗ thời gian.

Mặc dù năng lượng âm nghe có vẻ kỳ quặc, nhưng các định luật vật lý cho phép điều này xảy ra. Trong khoảng không của không gian, một vài vùng nhỏ của không gian - thời gian có thể được lấp đầy bởi năng lượng âm, được bao quanh bởi năng lượng dương. "Hãy nghĩ chúng như những cơn sóng của đại dương" - nhà vật lý Larry Ford của đại học Tufts, Boston cho biết. Các bụng sóng sẽ là những vùng năng lượng âm, còn đỉnh sóng là vùng năng lượng dương. 

Liệu đã đủ để mở một lỗ thời gian? Có lẽ chưa. Các nhà vật lý như Ford đã tìm ra các qui tắc gọi là sự bất đồng đều năng lượng lượng tử mà khiến cho năng lượng âm có thể được hợp nhất ở một vùng nào đó. Nếu bạn tập hợp đủ năng lượng âm, nó có thể tồn tại trong không gian nhỏ bé, và đủ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn. Bạn muốn năng lượng âm trên qui mô lớn hơn và dài hơn, nhưng bạn sẽ bị hạn chế với khoảng tích trữ được bao nhiêu. 
Tạo nên được lỗ thời gian cần một lượng năng lượng cực lớn. Ảnh: Dale O'Dell / Alamy
Một lỗ thời gian hữu ích cho du hành vũ trụ có thể sẽ phải đủ lớn và đủ dài để đưa một ai đó hoặc thứ gì đó di chuyển qua. Vấn đề là với những lỗ thời gian như vậy, bạn sẽ phải cần nhiều lượng năng lượng âm hơn các quy luật cho phép để đi qua. Và nếu bạn có thể phá vỡ được các quy tắc này, thì bạn sẽ cần một lượng vô cùng lớn. Làm một phép thử đơn giản, bạn sẽ qua năng lượng của mặt trời đã được tạo ra trong một trăm triệu năm đủ để tạo ra một lỗ thời gian với kích cỡ của một quả bưởi. Không ai biết được rằng rằng thậm chí một nền văn minh tiến tiến liệu có thể tạo ra một lượng năng lượng âm lớn như thế.

Cho đến bây giờ, mặc dù các nhà vật lý cho rằng du hành qua lỗ thời gian là không thể, nhưng họ cũng chưa chứng mình được là nó không thể xảy ra. Nhà vật lý John Friedman, đại học Wisconsin, Milwaukee cho rằng:  "Mọi người khá tự tin cho rằng sự bất động đều lượng tử sẽ không cho phép du hành qua lỗ thời gian trên qui mô vĩ mô". "Nhưng mà nó dĩ nhiên là cũng không thể không xảy ra."
Lỗ đen cũng bẻ cong không gian và thời gian, nhưng nó là chuyến đi một chiều nếu bạn có thể đủ đến tiến gần đến nó. Ảnh: NASA
Một số nhà vật lý đã suy đoán cách khác để xây dựng lỗ du hành thời gian có thể xảy ra, nhưng gần như tất cả trong số họ chỉ dựa trên ý tượng mà thiếu đi bằng chứng thực tế. "Họ đang thực sự thay đổi các qui tắc của một trò chơi theo một cách đơn giản", Ford phát đã nói. Họ sử dụng là lý thuyết lực hấp dẫn thay vì sử dụng thuyết tương đối của Einstein hay vật chất kỳ lạ, trong khi sự cần thiết của năng lượng âm lại gần như không tồn tại. Hoặc là họ dựa vào các thức phức tạp của việc bẻ cong không gian và thời gian mà điều này cực kỳ khó để xảy ra trong thực tế. 

Lỗ thời gian nhỏ cũng có thể phát sinh từ bọt lượng tử - những sự dao động trong không gian - thời gian chính nó, khi bạn phóng to trên quy mô hạ nguyên tử nhỏ hơn hạt nhân của một nguyên tử Hydro. Từ đó những lỗ thời gian nhỏ này sẽ quá nhỏ để bất cứ thứ gì có thể chui qua. Bạn có thể sẽ phải cung cấp thêm năng lượng âm để làm nó to lên. Nhưng các nhà vật lý cần phát triển một thuyết lực hấp dẫn lượng tử đủ để có thể hiểu được chuyện gì xảy ra trong một quy mô nhỏ như vậy, và cho đến khi họ tìm ra được thuyết đó, thì lỗ thời gian dường như là không thể xảy ra.

"Dựa trên những gì chúng ta đã được biết cho đến bây giờ, thật khó để hiểu được bạn có thể tạo ra được lỗ du hành không gian thời gian. Nhưng điều đó không làm các nhà vật lý dừng lại khám phá cho dù bất kỳ điều gì bất khả thi có thể xảy ra.

Cho đến thời điểm hiện tại, nếu bạn đã đang có kế hoạc cho chuyến hành trình du hành giữa các vì sao, thì thật là ý tưởng tốt đển viết những cuốn sách. Đó có thể là một hành trình dài.

(Theo BBC Science)

Monday, 24 March 2014

CHÙM THƠ MỪNG XUÂN



  SZABÓ LŐRINC- MÙA XUÂN
 


 „Cái gì thế?”- SÁO GIÀ ngơ ngác

Mùa Xuân” – MẶT TRỜI trả lời

Đến rồi à?”- SÁO GIÀ ngơ ngác

„Chứ sao!”- tủm tỉm MẶT TRỜI.



„Em yêu Anh?” –SÁO GIÀ hồi hộp.                  

„Em yêu Anh!” – âu yếm MẶT TRỜI.

„Thế gian sẽ đẹp lên vì thế?”

„Sẽ đẹp hơn và sẽ hạnh phúc hơn!”



Nàng ERZSI bảo: Xuân đấy

Xuân đến rồi, mình cảm thấy không?

hơi thở xuân?

cười với mình bằng miệng hoa xinh xắn

dậy ngát hương thơm



Từ bụi cây chim huýt sáo gọi mình

huýt phồng mang trợn mắt.

Cành đầy lộc xanh nảy mầm tí tách

Biết rồi - Xuân lại trở về.



  Nguyễn Hồng Nhung dịch từ nguyên bản tiếng Hung

   - Budapest ngày Xuân đầu tiên. 2014. 03.20 -




HOA XUÂN  - thơ EMILY DICKINSON

Gió phương Nam chen nhau thổi tới
Lũ ong bầu quấn quít vờn quanh
Ngập ngừng do dự đáp nhanh
No say mật ngọt xong đành bay đi.

Đàn bướm xinh thảnh thơi dừng lại
Lượn trên hàng cánh mịn như tơ
Khẽ khàng ngắt một chùm thôi
Này đây hoa đẹp cùng tôi ngắm nhìn!

Chiêu Uyên phỏng dịch

South winds jostle them,
Bumblebees come
Hover, hesitate,
Drink, and are gone.

Butterflies pause
On their passage Cashmere;
I, softly plucking
Present them here

E. D.
 



TÌNH KHÚC MỚI



Máy ảnh nhỏ bỏ túi

Tôi quẩn quanh

Mấy hè phố quen

Dăm góc vườn lối xóm



Đóng vai đạo sĩ

cử hành nghi thức trang nghiêm



Bái lễ hòn đá cội cây

Từng bước chào hiện tại



Trong miệng lâm râm

Tình khúc mới



Xuyên tuyết nhiều màu

Thủy tiên vàng

Tuy líp đa hương sắc

...

Các ái nữ của mùa Xuân hỡi !

Tôi biết mấy em ẩn trốn ở đâu rồi !



CHÂN  PHƯƠNG
 

 SPRING COLLAGE - Ảnh Chân Phương