Monday, 30 September 2013

Nhớ Diễm Châu


  Nhà thơ Diễm châu đã dịch thơ của hơn 60 tác gỉa quốc tế.  Lá xanh trân trọng giới thiệu một bản dịch của anh



               
 Jorge-Luis Borges

  Dự tưởng tình yêu 

 Ngay cả sự thân mật của vầng trán em trong trẻo như một ngày ngay cả sự riêng tư của thân thể em, hãy còn huyền bí và câm nín, hãy còn
ngay cả những lời em nói hay những phút em im lặng, những chặng đường đời em,
đối với tôi, cũng sẽ không phải là một ân huệ huyền bí cho bằng

được nhìn ngắm giấc ngủ em hàm chứa
trong thao thức của đôi tay tôi.
Bởi hiệu năng hoá giải của giấc ngủ em lại trinh trắng lạ lùng,
yên hàn và lộng lẫy như một niềm hạnh phúc mà ký ức đã chọn lựa,
em sẽ cho tôi cái rẻo viền của đời em mà chính em em cũng không đạt tới.
Hối hả trong yên tịnh
tôi sẽ nhận ra bãi biển cuối cùng ấy của thân thể em
và có lẽ sẽ được thấy em lần đầu
như Thượng đế sẽ thấy
khi Thời hư ảo lụi tàn tan tác.



 Cơn giông 

Có những chiếc lá
trong gió vẫn tung tăng
như vầng trăng
khi ẩn hiện
cười trên mặt giếng
vẫn no đầy

như mây trong cơn say
bay mải miết
cuốn theo những mảnh trời da diết
bỏ lại cơn mưa
hạt đong đưa
trên hàng dừa ủ rũ
bỏ lại cơn mưa
bên dòng lũ
bụi sóng còn in trên vách tim

như muôn ngàn cánh chim
về cùng bóng tối
– những chuỗi giờ chưa đứt nổi –
bên đám tro
màu xam xám ơ hờ

chúa ôi
có những chiếc lá rơi
nghiêng một trời giông bão.


Đối thoại



YVES  CITTON (1) --- CHÂN PHƯƠNG dịch và chú thích

 Cuối hè 2009 tạp chí LA QUINZAINE LITTÉRAIRE (2)ra số chủ đề “ La Critique Littéraire en  question”(Chất vấn phê bình văn học) gồm nhiều bài nhận định, biên khảo, phỏng vấn khoảng hơn hai mươi văn gia, học giả, giáo sư ở Pháp như Marc Fumaroli, Jacques Dubois, Jean Bellemin-Noel, Gérard Dessons, Dominique Mainguenau…
Bài nhận định “Etudes Littéraires et Société de l’Interprétation” của Yves Citton nằm trong phần tạm kết và định hướng tương lai văn học của số báo đặc biệt này. 


Các môn nghiên cứu văn học đang đứng trước một ngã rẽ. Với thế kỷ đang đến, một đàng chúng có nguy cơ lặp lại số phận của ngành thần học. Ngày nay còn ai tiếc nuối cái thời khi  thần học đứng chung với các bộ môn đại học khác? Ai mà không nhìn các đồng nghiệp thần học với nụ cười hơi thương hại - những phế tích lỗi thời từ một quá khứ nặng tín ngưỡng giữa cõi nhân gian thế tục vô thần? (3)
Nhiều chẩn đoán về “xã hội của hình ảnh” , về “suy giảm độc giả”, về “văn hóa mì ăn liền (instantané)” đã hứa trước với chúng ta một thế giới ở đó văn học sẽ không còn chỗ đứng. Tương tự như súng thần công thẳng nòng chỉ còn là di vật lịch sử lạ mắt đối với phần lớn thiên hạ hôm nay, ta cũng có thể tưởng tượng đa số dân chúng Pháp vào năm 2100 hay 2050 ( và có thể sớm hơn là 2010) sẽ không còn hiểu được sự bổ ích của việc viết sách, đăng báo, tổ chức các hội thảo, hoặc dành ra một lục cá nguyệt để giảng dạy vài bài thơ Rimbaud hay một tiểu thuyết của Diderot.Các môn nghiên cứu văn học trong một mức độ nào đó dựa trên sự linh thiêng hóa văn bản, dưới mắt của các thế hệ tương lai điều này rất có thể bị xem là trò dị đoan huyễn hoặc.
Nghiên cứu văn học có thể làm gì để khỏi phải nối bước thần học về nhà kho của những kiến văn cũ càng? Liên kết mật thiết với nhau có ba điều khả dĩ mở ra hướng đi khác trong thế kỷ đang đến.
Trước nhất ta nên nhận diện chính xác những động lực nằm trong lòng các hình thái sản xuất của cải mới tiêu biểu cho thời đại chúng ta. Phần lớn các phạm trù chính trị, kinh tế, nhân học của chúng ta bắt đầu với kỷ nguyên tư bản công nghiệp từng ngự trị hai thế kỷ 19 và 20. Các quan niệm thống soái  và các cách đo lường “lao động”,“phát triển”, “thịnh vượng” của chúng ta trật nhịp hoàn toàn với những gì đang (và nhất là sẽ) tạo nên sức sản xuất thực sự vào thời đại của chủ nghĩa tư bản tri thức(capitalisme cognitive) đang bước đầu thành hình.(4) Kể từ đây chỉ đạo các lĩnh vực sản xuất vật chất sẽ là lô gíc của sự truyền thông/truyền đạt cái phi-vật chất ( logique de la communication de l’immatériel); trong các xã hội dư thừa ( dư thừa tương đối do phân phối bất công) của chúng ta những bài toán về khan hiếm và những xung đột về quyền lực từ đây phần lớn tùy vào mức thu hút sự chú ý (captation de l’attention) hơn là sự chiếm đoạt “đồ vật”.
Điều quan trọng thứ hai là đừng nên mù quáng tin theo các cách nói về “xã hội của kiến thức” , “xã hội của thông tin”, “xã hội của truyền đạt” , thường được dùng để gọi tên các lôgíc xã hội mới. Trái ngược với lối suy nghĩ sáo mòn do mấy từ ngữ ấy chuyển vận, điều xứng đáng được đặt ở trung tâm của năng suất và những xung đột quyền lực đang nổi lên hiện giờ không phải “kiến thức”, “thông tin”, “truyền đạt” mà là  diễn giải (interpretation). Theo đà tự động hóa ngày càng nhiều các hoạt động trí tuệ dựa vào quyền năng của máy tính (ghi nhớ, tính toán, hệ thống hóa, sao chép, nhận diện-nhận dạng), kháng cự lại sự thay thế bằng máy móc một cách mạnh mẽ là các loại công việc liên quan đến sự diễn giải, như một hoạt động phức hợp cao cấp, đa chiều kích, giàu sáng kiến, chủ yếu mang tính dự phóng (une activité éminemment complexe, multidimensionnelle, inventive et essentiellement projective). Một bộ máy có thể  đọc các dữ kiện (“thông tin”), có thể phân loại chúng (“kiến thức”), có thể truyền đạt chúng (“truyền thông”) nhưng không thể diễn giải chúng – có nghĩa là suy tư trên phương diện tính thích ứng phong cách về mặt nghĩa lý, nội hàm, giá trị ứng dụng của một tập hợp ký hiệu trong khuôn khổ một tình huống cùng thực tiễn đã định sẵn (réfléchir en termes de pertinence et de style sur la signification, les connotations, la valeur et l’applicabilité d’un ensemble de signes dans le cadre d’une pratique et d’une situation données).
Sau cùng nên công nhận rằng các môn nghiên cứu văn học và nói rộng ra -- các “khoa nhân văn” -- tạo thành lĩnh vực kiến thức được trang bị tốt nhất để hiểu và thực hành những gì mà hoạt động diễn giải có thể làm một cách phức tạp nhất và phong phú nhất. Khi người ta nhận thức được việc quản trị/điều tiết sự chú ý và những cảm xúc (économie de l’attention et des affects), các vấn đề về phong cách, nghĩa lý, giá trị cùng tính thích ứng đảm trách đến mức nào cả hai vai trò động cơ và hoa tiêu trong mọi phát triển xã hội của chúng ta, làm sao không thấy rằng những gì giới văn học thực hiện trên  các tạp chí, trong những hội thảo với giảng khóa văn học nằm ngay tâm điểm sinh tử nhất  của các vấn nạn hiện nay của chúng ta? Thay vì chịu chung bản án với ngành thần học bị vứt vào nhà kho lịch sử, các môn nghiên cứu văn học trái lại phải được chiếm vị trí xứng đáng ngay trung tâm các cơ chế giáo dục và nghiên cứu về thế giới tương lai, khi mà thế giới ấy hoạt động đồng nhịp với một xã hội của sự diễn giải.
Tuy nhiên với yêu sách về vị trí trung tâm như thế đòi hỏi giới văn học về phần mình phải bỏ công sức suy xét và tổ chức lại công tác giảng dạy và nghiên cứu của họ. Không xếp cùng hàng các “bộ môn” (discipline) khác (đang còn tìm kiếm tính khoa học hay các bằng cớ về tính nghiêm túc thực chứng), các môn nghiên cứu văn học phải được quan niệm như một bình đồ phi chuyên ngành (une plate-forme indisciplinaire)  có nhiệm vụ liên kết, hợp nhất, phê phán, làm bật tung và tách đôi (faire rebondir et bifurquer) các tri kiến bắt nguồn từ những bộ môn “khoa học”. Nghiên cứu văn học phải đúc kết các hậu quả từ sự kiện này: không thể đo lường những ưu điểm của việc diễn giải văn học bằng các ý niệm về chân lý (tương ứng với một dữ kiện đã có) mà phải bằng các ý niệm về gợi tưởng/suggestivité (năng lực làm hiện ra những thế giới khả dĩ khác).
Sau ba thập niên dưới sự thắng thế của duy sử luận /historicisme ( nhiều lúc ngột ngạt, không còn động viên và thiếu sức gợi hứng cho học thuật), đã đến lúc ta phải nhớ lại rằng công việc nghiên cứu các văn bản (văn học hoặc phi-văn học) chỉ dùng đến kiến thức về quá khứ để đóng góp tốt hơn vào cuộc tranh luận về hiện tại và kiến tạo tương lai. Đúng là các môn nghiên cứu văn học đang đứng trước ngã rẽ: bên phải là con đường nền nếp của loại kiến thức thực nghiệm/thực chứng (savoir positiviste) đang dẫn về lối bí của thần học nếu không chịu chất vấn vị thế của mình; bên trái là con đường phi chuyên ngành của các cách đọc hoạt khởi /lectures actualisantes(5) lấy lịch sử và văn bản tính làm dưỡng chất để đóng góp tốt hơn vào những cuộc tranh luận đang định đoạt hướng đi cho các xã hội diễn giải của chúng ta./.
CHÂN PHƯƠNG dịch và chú thích, Xuân Canh Dần, Cambridge, Massachusetts.

CHÚ  THÍCH

1.Sinh năm 1962 ở Genève, nay là giáo sư  tại đại học Stendhal-Grenoble, Yves Citton là một rising star về tư tưởng chính trị và lý thuyết văn học ở Pháp. Chuyên trị về tư tuởng thế kỷ Khai Sáng Pháp vừa là học giả hàng đầu về Spinoza, ông vận dụng kiến thức về triết học và lịch sử của mình vào cách đọc các loại tác phẩm. Bài nhận định ngắn “Nghiên cứu văn học và Xã hội diễn giải” tóm lược nội dung của quyển khảo luận tác giả hoàn thành mấy năm trước đây LIRE,INTERPRÉTER,ACTUALISER, Paris, Ed. Amsterdam,2007.

2.Do nhà phê bình và nghiên cứu văn học Pháp Maurice Nadeau sáng lập, tạp chí văn học và tư tưởng La Quinzaine Littéraire (Bán Nguyệt San Văn Học) đã có mặt từ hơn bốn mươi năm qua bên cạnh các tạp chí văn hóa hàng đầu ở Pháp như Critique, Esprit, Magazine Littéraire, Le Débat, Les Temps Modernes, Nouvelle Revue Francaise…Không chỉ là diễn đàn của giới nghiên cứu, phê bình văn học ,tạp chí này còn được xem như một loại bách khoa về triết học, mỹ thuật và các ngành khoa học nhân văn.

3.Đoạn này là lời mở đầu của ban biên tập La Quinzaine Littéraire cho bài nhận định của Yves Citton. Mấy ý kiến không được lạc quan này phản ảnh sự khủng hoảng hiện nay của các phân khoa văn học càng ngày càng bị mất sinh viên, nhất là từ cuộc suy thoái kinh tế lớn đang diễn ra ở các nước Âu-Mỹ. Tình hình này càng đen tối hơn ở Hoa Kỳ , nơi mà học phí đại học quá đắt đỏ (trung bình vài ba chục nghìn đô la mỗi năm) càng khiến cho các sinh viên cùng phụ huynh tránh né các ngành văn học như English Studies, hoặc Comparative Literature…không có nhiều giá trị kinh tế bằng các môn học thực dụng khác. Tạp chí The American Scholar (mùa thu 2009) vừa đăng một bài nhận định của William M. Chace, “The Decline of the English Department” phân tích các nguyên nhân khiến cho giáo dục đại học chuyên về nghiên cứu văn học ở Mỹ đang xuống cấp (decline) cả về phẩm chất lẫn số lượng sinh viên. Sự mất giá của môn lý luận văn học là một trong các hậu quả của tình trạng mất phương hướng trong học thuật đi kèm với thiếu hụt ngân quĩ ngày càng nghiêm trọng đang kéo các phân khoa Anh văn và ngoại văn đi xuống.

Cũng như Citton biện hộ cho việc diễn giải văn bản, giáo sư Chace đề cao việc đọc sách, đặc biệt là các tác phẩm văn học lớn. Đây là niềm vui và ý nghĩa của môn văn học, là nền móng cho các phân khoa đại học chuyên về nghiên cứu văn học. Nếu được kết hợp chặt chẽ với môn viết văn và tu từ học, theo Chace, các cách đọc và tiếp cận văn bản sẽ đem lại giá trị thực dụng cho các bộ môn văn học, đồng thời cũng mở ra sinh lộ cho ngành đại học này.

4.Capitalisme cognitive là một khái niệm của giới kinh tế học mác xít Pháp, tương đương với từ knowledge economy ở Mỹ. Đây là hình thái sản xuất cao cấp của chủ nghĩa tư bản ngày nay, liên kết mật thiết với nghiên cứu đại học và tận dụng chất xám như trong kỹ thuật và công nghệ tin học hoặc sinh học

5.Từng giảng dạy nhiều năm ở Mỹ ( tại các đại học Yale và Pittsburg), Citton đề ra một tổng hợp mới cho lý thuyết tiếp nhận văn học (reader-response và reception), một mặt kết hợp minh giải luận (herméneutique) của Gadamer với cộng đồng diễn giải (interpretive community) của Stanley Fish, mặt khác tiếp thu các thành tựu nghiên cứu và phê bình văn học từ Ecole de Genève(Poulet, Starobinski…)với cách đọc sáng tạo của Barthes trong khảo luận đang gây nhiều tiếng vang trong học thuật văn học ở Pháp, Lire, Interpréter, Actualiser, Pourquoi les Études Littéraires? với khái niệm then chốt lecture actualisante.Cách đọc hoạt khởi (lecture actualisante) là cách tiếp cận sinh động với văn bản khi người đọc làm sống lại nội dung của tác phẩm bằng kinh nghiệm văn hóa và nghiệm sinh đặc thù của mình. Đây là một phương pháp triết học minh giải mà Yves Citton đặt tên là ontologie herméneutique, khi văn bản với độc giả hòa nhập thành một thực thể được thăng cấp về nhận thức và nhân cách xuyên qua nỗ lực diễn giải các trang viết phức tạp và giàu ý nghĩa.

Kẻ đi tìm cái tuyệt đối


(N. Kazantzakis)

I hope for nothing. I fear nothing. I am free’*- * ‘Tôi hy vọng chẳng có gi xẩy ra. Tôi chẳng sợ gì. Tôi là một tự do

VÕ CÔNG LIÊM


Phải chăng đây là tư duy của con người muốn khám phá sự thật tuyệt đối giữa cuộc đời hay đây là vấn đề đi tìm sự sống và chết ? Chân lý cuộc đời nó bao trùm trong một vũ trụ bí ẩn; đó là bí ẩn tuyệt đối giữa Thượng đế với con người, một đối diện hiện hữu, đối diện với hoài nghi và đi tới chối từ hay vì ám ảnh giữa ảo và thực. Đó là câu hỏi đưa ra hằng thế kỷ qua. Phản kháng nội tại của Kazantzakis là động lực thúc đẩy đi tìm đấng tuyệt đối. Nhưng; quên rằng Thượng đế đã chết không còn hiện diện để cứu rỗi con người ra khỏi bể khổ. Tại sao? Bởi; ’thiên điạ vô tư’ là cố định, không còn đứng ra để chứng nhân thiện và ác (good and evil) cho con người, một quay lưng hoàn toàn, một im lặng vô biên như từ nan; con người hiện diện với vũ trụ là cấu thành và kết tụ bởi bản chất thiên nhiên như sự đã qui định.


Trong lờì mở đầu tập ’Cám Dỗ Lần Cuối/ The Last Temptation’ ông nói:’Trong tôi là cả bóng tối bao trùm qua cái lực ở cõi âm linh của Qủi Sứ, con người kể cả tiền nhân; trong tôi quá nhiều lực hào quang tỏa sáng, con người kể cả tiền nhân, Thượng đế toàn năng – và linh hồn tôi là đấu trường nơi đây có hai đội quân thường đụng độ và như đã gặp gở’. Within me are the dark immemorial forces of the Evil One, human and pre-human; within me too are the luminous forces human and pre-human, of God –and my soul is the arena where these two armies have clashed and met. Đó là khát vọng của con người đối diện với hư vô đưa tới đau khổ tuyệt vọng gây ra từ niềm tin, làm băng hoại không ngừng, đấu tranh với vô tính giữa tinh thần và thể xác. Vị trí con người lâm vào hoàn cảnh bi thương. Kazantzakis cho đây là bí mật của Thượng đế (Christ) là không đơn giản hóa sự bí ẩn đó như tín điều của lòng tin giữa thế gian nầy. Chính vì vậy đấu tranh triền miên giữa Thượng đế và con người làm tan vỡ niềm tin phấn chấn trong con người là cả một trường kỳ để hóa giải đâu là sự thật và đâu là hư vô. Giữa một vũ trụ biến hóa vô thường làm đảo lộn tư duy.

Toàn bộ tác phẩm của Nikos Kazantzakis là nói lên kinh nghiệm bản thân, một hành trình đi và sống để tìm thấy trọn vẹn cuộc đời như một đấu tranh triền miên giữa tinh thần và thể xác. Ngoài những đấu tranh dữ dội của Kazantzakis, ngoài khả năng hòa giải những đối kháng và liên kết tất cả những dữ kiện để đưa vào tư duy riêng mình; tất cả thành quả đó được mô tả một cách rõ ràng, chính xác và thông đạt đầy đủ hình ảnh rộng lớn qua kinh nghiệm sống của con người. Vì vậy Kazantzakis đối diện thường xuyên trước những tình huống qua bao dặm trường của kẻ đi tìm chân lý thực hư.

Đứng trên lãnh vực nghệ thuật của Kazantzakis được coi là một ghi nhận, dù có nhiều điểm đáng chú ý nhưng vẫn chưa thoát khỏi những phạm trù văn chương, lý luận và những thay đổi khác trong cuộc đời đang sống. Ông là một con người thông minh, mẫn cán có một học vị cao –theo đuổi nhiều tác giả có những luận thuyết như Nietzsche, Bergson, tìm hiểu văn học Nga, theo chân Phật giáo, một nhà biên soạn, chuyển ngữ từ những danh nhân khác như Homer, Dante và Goethe –Cùng thời gian đó ông đã nhận biết đôi điều và hết lòng thương yêu những con người thiếu may mắn ít học và từ đó; qua những hoạt động khác ông bước vào một điạ vị cao trong xã hội…Dẫu có du hành khắp nơi trên điạ cầu nầy, một hành trình không ngừng nghỉ và tìm kiếm, đào đục tận gốc kiếp lầm than, lưu đày của con người ngay trên quê hương của ông. Kazantzakis không thoát khỏi những bức xúc nội tại, không tin ở chính mình kể cả Thượng đế mà dòng dõi ông vốn đã tôn thờ hằng cửu; nhưng trong thảm họa làm người là một đấu tranh không ngừng, ở thời tuổi nhỏ bản thân ông đã tiếp cận bầu khí quyển hoàn toàn đối kháng đến với những gì mà ông lớn dần theo thời gian. Ở đây là những phát hiện ở buổi thiếu thời của Kazantzakis là cả một sự chịu đựng kiên trì giữa những nhu cầu cần có để triệt thoái sự khổ hạnh, một tìm kiếm dai dẳng ở người cha của mình, đấng thật sự cứu chuộc thế gian – cho một ý nghĩa hiện hữu của ông và của chúng ta.(to search untiringly for his true father, his true saviour –for the meaning of his and our, existence) Con đường lặn lội tìm kiếm bất luận nơi đâu, từ hang cùng, ngõ cụt, những tu viện hẻo lánh hay những đền đài xa xuôi; để về sau ông rơi vào một tâm thần chao động: Nietzsche dành cho Phật, Phật dành cho Lenin, Lenin dành cho Odysseus… để rồi quay về với Thánh giáo (Christ) như đã một lần tôn thờ hằng cửu. Một chạm trán, đương đầu với đời như Jesus Christ. Nhờ vào sự thu hút mãnh liệt đó Kazantzakis như bị cám dỗ để lao vào con đường phản kháng giữa nội tại và ngoại tại, để tìm thấy chân lý tự do. Bởi vậy cho nên ông chịu ảnh hưởng nặng của những cuộc cách mạng ở quần đảo Điạ Trung Hải Hy Lạp (Cretan). 

 Đến năm 1917 là động lực đẩy Kas. vào hai con đường: Cách mạng Nga và hiệp hội hầm mỏ Peloponnesian; đặc biệt con người đầy nhiệt tình của phong trào George Zorbas; đó là kinh nghiệm sống và thấy để về sau dựng nên ‘Zorba Hy Lạp’ (Zorba the Greek.1946). Mở đầu cho những tiền đề trong tác phẩm là cả một đối kháng của con người ‘Zorba Kazantzakis’ giữa tinh thần và thể xác, giữa hành động và cám dỗ. Niềm tin đó như nở hoa, bừng lên trong ông ở tuổi hai mươi, một tuổi trẻ hào hùng, năng động cho tới những dặm đường cuối cùng ông vẫn tìm kiếm đích thực ý nghĩa của cứu rỗi. Kazantzakis phản bội ở chính mình, chối bỏ những triết thuyết trong ông đã một thời đam mê tìm kiếm chân lý; ông quét ra khỏi những tư duy của Nietzsche, Plato, Bergson –ông đánh mất tất cả những nguyên cớ để trở về với bản thể; chiến đấu không sợ hãi, không nuôi một hy vọng nào hơn và chẳng còn sinh khí: sức mạnh cuộc đời có thể là điều để chế ngự vấn đề mà thôi –the life force which can conquer matter. Nói cho đúng nghĩa tinh thần phản kháng trong con người của Kazantzakis chúng ta cần phải đào khoét tận cùng tâm linh của con người đối diện với Thượng đế, Kas. trở về là nhận thức, là khước từ tất cả đã xẩy ra, những mối liên hệ giao tình giữa văn nhân và người yêu, bởi; Ki-Tô-Giáo đã đưa vào Kas. ý niệm của khổ đau, trong đau khổ gieo rắc có Qủy Sứ dự phần ở cuộc đời. 

Nhưng ông vẫn tin duy nhất: nguyên lý cốt tủy của Thượng đế là tình yêu –Dieu en tant que principe d’amour. Nhưng liệu Thượng đế có khoan hòa để vừa lòng nhân loại? đó là cái bất-khả-tư-duy trong con người của Kas. Vẫn hoài nghi, vẫn có một cái gì không tương nhượng mà Thượng đế dành cho con người, bởi; công lý bất công và tồn tại đôi phần –Pourquoi? Parce qu’ellle est injuste. Cho nên chi Kazantzakis trở thành một thứ phản kháng siêu hình đó là cơn dấy động của con ngưới đứng trước với hư vô để nói lên thân phận đau khổ, một thân phận cần được cứu rỗi hơn là thượng đế cứu rỗi. Cái siêu hình là ở chỗ đó, mà; Kas. phải lần mò tìm kiếm, một đoạn trường tân thanh vì trót làm thân phận con người mà cả hai dạng thức đó phải nhận –pour l’un et l’autre. Từ đó tinh thần phản kháng trong Kazantzakis tự quyết đoán lấy mình, mọi hiện hữu siêu nhiên ít nhiều chứa chấp mâu thuẩn(?) Tuy nhiên; Kas. lấy cái sự bừng lên là một đòi hỏi tuyệt đối; nhưng Kas. không nhận ra được hư vô và huyền nhiệm vì thế chân lý rơi dần vào hố thẳm (không chừng hố thẳm của tội lỗi!) Để rồi cuối cùng Kas. quay đầu qui cố hương trong Odysseus. Cái sự cớ đó chính Kas. đã thốt lên trong mở đầu:’Cám Dỗ Lần Cuối’ cuộc dấy động đã dàn binh bố trận có quân đội chém giết đôi bên, tâm như của Kas. là lính chiến của mặt trận dự phóng giữa Thượng-đế và Con-ngưởi. Một cuộc cách mạng tinh thần và thể xác, cách mạng một nội tại bức xúc. Những Nietzsche, Heidegger, Marx-Engels, Lenin, những gì của văn nhân lừng danh Âu châu không đẩy lùi được tư duy phản kháng siêu hình. Nhưng rồi những dạng thức của phản kháng siêu hình hay phản kháng nội tại của Kas. vẫn ngấm ngầm, sôi sục không thể cứu chuộc mà nằm một cõi xa xôi, mơ hồ. Đó là những gì bí ẩn của Thượng đế, một cái gì im lặng vô biên, những gì vô hạn hữu dù con người muốn khám phá để đi vào hư vô. Không riêng Kazantzakis; Hy Lạp là đất phát tiết của phản kháng siêu hình, cả một kho tàng thần thoại vẫn chưa tìm ra chân lý tuyệt đối. Cho nên chi Hy Lạp đa đoan, Kazantzakis đa đoan là thế! Hy Lạp đã hụp lặn trong sỏi đá, của sương mù. Như đã có lần cho Kas là kẻ nằm trong ‘Vườn Đá Tảng’ nhưng thật ra ông đang hành trình trên dặm mòn của đá tảng thì đúng hơn –stony trail. Chính cái ao ước nầy A. Camus cho là nỗi tuyệt vọng không rời –désespoir! Ý của Camus nói rẳng chân lý tuyệt đối mà Kazantzakis đi tìm là vô vọng trong tư duy của Thánh linh, ngay cả Christ cũng phải im lặng; cái đó là tuyệt đối như-nhiên. Nietzsche cũng mượn lời của Zarathustra mà thốt lên rằng: Trước Thượng đế thì có, nhưng nay Thượng đế đã chết, chết hẳn hoi vì loài người không bình đẳng, không tương nhượng, một đổ vỡ trầm trọng đích thực. Vì những câu nói chân truyền của Nietzsche đã làm cho tư duy của Kas trở nên đốn mạt, Kazantzakis tự cho mình là kẻ vô luân và sửa sai bằng một thứ ngôn ngữ tế nhị hơn, ông đã giải thích từng ‘con chữ’ trong tác phẩm như một chạy chửa dành cho niềm tin ‘sau cùng của cám dỗ’. Ngôn ngữ và cách dụng văn của Kazantzakis đã biến thể để đi vào thế giới của biểu tượng hơn là hiện sinh, Kas. đối diện với thượng đế là khách thể và hư vô là biểu tượng, cho nên tri thức bấy giờ của ông là một hiện hữu trực tiếp hướng đến một đối tượng; lấy Zorbas ngoài đời để hư cấu trong truyện là dạng thức giữa ảo và thực trong con người thực của Kazantzakis.

 Vốn mơ hồ nhưng thực thể và phong phú của tha thể đi qua vai trò chủ thể; cái đó thuộc nhận biết của tri thức. Kazantzakis hạ bút xuống ‘Cám Dỗ Cuối Cùng’ không phải một lòng nhìn nhận Thượng đế chịu khổ nhục; giữa hữu thể và tha thể có một đồng tình bí ẩn ngấm ngầm, Kazantzakis đau đớn đường tình, thì ngay trong Christ cũng đau đớn đường tình (The Last Temptation). Nói theo triết học hiện tượng thì đó là thế giới duy nghiệm, bởi; bên cạnh cuộc đời của Christ vẫn thấp thoáng bóng phụ nữ ngay cả khi lâm chung trên thập tự giá, chính sự cớ đó là một khám phá của Kazantzakis. Tuy nhiên trên thực tế không có phép nhị nguyên tính mà nó hoàn toàn phân cách giữa chủ thể và tha thể. Sở dĩ như thế vì Kas. nuôi dưỡng một tâm thức phản kháng bởi nghi ngờ sinh ra dục tính và đi tìm đấng tuyệt đối giữa siêu hình và hư vô. Và; Kazantzakis rơi vào vũng tối của quên lãng mà thường khi bắt gặp nơi tính nghệ sĩ của ông; tiềm lực của ngôn ngữ qua nhiều biến thể một cách tùy nghi thích ứng.

Trong những lần biện hộ cho giới bình dân, Kazantzakis cảm thấy như bao che linh hồn cho những người đồng cảm để chống lại cái ý thức về hình ảnh (ảo hóa) của một thứ thông thái rởm, cho dù có quan trọng chăng nữa –In championing the demotic, Kazantzakis felt he was defending the soul of the common people against the unimaginativeness of pedantic intellectual, and even more important. Kazantzakis đã tấn công mãnh liệt trên văn chương không những chỉ dành cho sự trau chuốt nhưng đây là một biện hộ của quần chúng nhưng quần chúng đòi hỏi ông phải bước ra khỏi những từ ngữ tối nghĩa. Cũng vì thế mà ảnh hưởng đôi phần trong tác phẩm của ông (Kazantzakis là ứng viên hụt giải văn chương Nobel vì thiếu một phiếu đề cử vào năm 1952) Trong trường hợp nầy Kas.không chịu thối lui trước lời đề nghị của quần chúng hay tại ngã mạn vì đứng sau một lá phiếu Nobel? vì; yếu tố tối thượng không lãnh hội sâu xa ý siêu thoát của Kazantzakis mà đành bỏ cuộc ởm ờ ? nhưng cũng lấy đó mà cứu cánh cho những tác phẩm về sau và cứ thế mà luân lưu giữa chối từ và thừa nhận, giữa hư vô và siêu hình thì sự hoài nghi vẫn còn lùng kiếm…để chống lại những lý thuyết giáo điều bao che. 

Sở dĩ như vậy; Kazantzakis mạnh dạn nói lên sự thật mà những gì giáo hội bao che. Ông đứng trên cương vị của khách thể để nhìn hữu thể là hiện hữu. Như-nhiên không thối lui, Kazantzakis cũng không chịu thối lui. Hư vô im lặng để vũ trụ vận hành, còn Kas. tiếp tục lùng kiếm, tiếp tục viết để nói lên tiếng nói thổn thức, dù bao lần công kích, đả phá kịch kiệt và xem như lăng nhục kể cả Thánh thể; qua những tác phẩm trước và sau của ông: ở tuổi 65 ông dốc toàn lực , trong vòng hai tháng hoàn thành tác phẩm ‘Christ Tái Đóng Đinh/Christ Recrucified’ viết trọn những phong tục, tập quán của con người Hy Lạp nhìn Christ. Với 9 năm , ông để lại 8 tập khác nhau; gồm có ‘Freedom and Death/Tự Do và Chết’ ‘The Last Temptation/ Cám Dỗ Cuối Cùng’ “Report To Greco/ Tường Trình Đến Greco’ ‘The Fratricides/Kẻ Phạm Tội’ ‘The God’s Pauper/ Kẻ Nghèo của Thượng đế’ ‘Zobra The Greek/Zobra Hy Lạp’ và ‘England: A Travel Journal/Anh quốc: Thời sự Du lịch’. Đáng chú ý nhất là hai tác phẩm để đời của Nikos Kazantzakis: ‘Cám Dỗ Cuối Cùng’ và ‘ Zorba Hy Lạp’. Ông đã lãng mạn hóa cuộc đời của những người nông dân nhà quê, những người thiếu may mắn,với lòng ngợi ca tốt và xấu của những anh hùng dân tộc Hy Lạp. 

Ông thổi vào tác phẩm ‘Cám Dỗ Cuối Cùng’ một ngọn lửa truy tầm, soi sáng những gì trong đó, bởi; chính đây là thời của Kazantzakis một bày tỏ của tìm kiếm mà trong ba mươi năm qua ông đã mài công tìm kiếm chân lý tuyệt đối, nhưng vẫn phủ nhận, đến khi thừa nhận là lúc ông hoàn toàn đánh mất cứu cánh. Và; những gì ông học hỏi từ học thuyết Nietzsche là một cố gắng không cùng cho tự do để tìm thấy tự do không sợ hãi, nhưng rồi cũng không mang lại một hy vọng nào khác hơn. Đến khi hoàn tất ‘Cám Dỗ Cuối Cùng’là lúc Kazantzakis nhìn thấy Jesus là một siêu nhân, một lực lôi cuốn ông và đưa tới thành quả vinh quang trên tất cả mọi thứ trong đời; bởi lòng trung tín của ông đem lại mãnh lực cuộc đời trở nên hợp lý trong ông và biến đổi một tinh thần tươi sáng. Nhưng ở đây khiá cạnh mang lại thành quả thật sự, một vinh quang như một con người tự do ra khỏi cảnh tù đày. Từ đó; đối với Kazantzakis chủ nghĩa tự do không đòi hỏi sự đền ơn cho đấu tranh, nhưng đạt được một kết quả mỹ mãn lấy ra từ phấn đấu. Ấy là phép lạ tối thượng mà Jesus bền gan, kềm chế lý trí đứng trước cám dỗ của qủi sứ. Đó là tâm như thánh giáo vượt qua những lôi cuốn kỳ diệu; dẫu có thua cuộc nhưng không sờn lòng. Và; duy nhất cách đó thì có thể đi tới quyết định tối hậu mới không chấp nhận sự cám dỗ cuối cùng.

Kazantzakis thấy Jesus giống như thấy Odysseus; một hứa hẹn trong cuộc chiến đầy căm go, một mô thức của con người theo đuổi tự do. Giờ đây Nikos Kazantzakis không còn là kẻ khám phá mà chính dặm trường của ông đã tìm thấy đâu là ‘good and evil’đó là con đường giải phóng cho những tâm hồn cô quạnh, cho những con người nghèo nàn thôn dã kém may mắn, giải phóng luôn thể xác và tinh thần để nâng lên giá trị tuyệt đối. Những tác phẩm của Kazantzakis hầu hết là đối kháng để đi tới chối bỏ nhưng là gì đi nữa Kas. vẫn là con người nhạy cảm đối diện vói một nội tại rối loạn như thời chúng ta đang sống. Ông muốn làm sống lại một Thượng đế có thật hơn là một thứ giáo điều bao che. Dẫu có lên án khai trừ ông dưới hình thức nào của giáo hội. Ngày nay Hy Lạp coi Nikos Kazantzakis là anh hùng dân tộc và vẫn ngợi ca là con chiên ngoan đạo. Thượng đế của ông là ý niệm của thiên hùng ca, một nguyên thủy cho tất cả - His Christ is an epic conception,wholly original ./.




(ca.ab cuối 7/2013)
____________________



NIKOS KAZANTZAKIS (1883-1957) sanh ở Harakleion. Miền Crete (Hy Lạp).Con của một thương nhân lúa gạo. 1902 đến 1906 học Luật ở Đ/h Athens. Bắt đầu đi du lịch 1907 qua nhiều nước Âu và Á. Bốn lần viếng thăm Nga. Tu học Phật giáo ở Vienna. Ông là nhà văn, nhà báo, kịch tác gia và phóng viên du lịch. Chết vì chứng bạch huyết cầu trong máu ; sau ít ngày trở về từ Trung Quốc và Nhật Bổn. Ông được tiến cử tranh giải văn chương thế giới Nobel.(1951). Ông viết trên dưới 10 tác phẩm. Trong đó có 2 tác phẩm nổi tiếng thế giới, (Zorba Hy Lạp và Cám Dỗ Cuối Cùng) truyện đã dựng thành phim ảnh và trên sân khấu kịch nghệ.

SÁCH ĐỌC :
The Last Temptation by Nikos Kazantzakis. Tran.by P.A. Bien. Faber and Faber. London. Boston 1991.
Zorba The Greek by Nikos Kazantzakis . Tran. by Carl Wildman. Faber and Faber. London.Boston 2008. PHIM ẢNH / MOTION PICTURE :-The Last Temptation of Christ (1988)(c) Đ/diễn: M. Scorsese. D/viên: W. Dafoe, B. Hershey.20th Century. USA.
- Zorba The Greek (1964)(b/w) Đ/diễn:Michael Cacoyannis. D/viên: A. Quinn, A. Bates.20th Century Fox.USA.
VÕ CÔNG LIÊM

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 16.9.2013.

Cục cứt thơ / Bullshit poetry

Posted: 28/09/2013 in Nguyễn Đình Chính, Thơ, Trần Đán
Nguyễn Đình ChínhTrần Đán chuyển ngữ



Cớ sao thơ mi không có đôi cánh để… bay
e mé mày
bay lên bay ngang bay xuống bay vào bay ra
bay tà tà bay là là bay vút bay vọt bay ngửabay xấp bay bổ nhào nhào bay bay bay
bỏ mẹ (thơ giống tàu lượn)


tiếng rên phì phò em gái bên đường bông hoa 
đồng nội
lén lút bán mình nhà trọ nghênh ngang
tiếng thở dài người tù oan sai hai mươi năm
 
đập đầu song sắt
mùi thối con sông thành phố
bộ xương người đợi chết (bệnh ết)
câng câng mặt thằng đại gia ăn cướp
(ăn cướp chứ không phải ăn cắp)
trí thức cụp tai
ngòi bút trượt dài sợ hãi
sự ngạo mạn trống rỗng lên ngôi
và quả đấm rình mò

vì thế thơ mi (zê) đành bò len lén
vì thế thơ mi (zê) lê la hành khất
áo vá bụi đời đôi giầy sục cứt
lấm lét ăn vụng đói nghèo 

ăn vụng chứ không dám ăn cướp
lổm ngổm vỉa hè rống lên ông ổng
phọt ra ồng ộc ngộ độc mắm tôm (thổ tả)

thơ đứng về phe nước mắt [1] (trên cả tuyệt vời)
nhưng… cẩn thận nước mắt (cá sấu)
nhân văn thời nay không xài nước mắt
nhân văn ăn nhậu tối ngày
nhân văn cười ruồi lặng im


ối thơ ơi là thơ
cục cứt nát bay đi đâu bây giờ
cục cứt nát chỉ có chóp
cục cứt nát thì làm gì có cánh

cục cứt mày ngủ cho ngon
đêm nằm mơ mớ dịu dàng
mọc ra đôi cánh nhập nhằng chập cheng (xò ri)
 
mọc ra đôi cánh nhịp nhàng
nhịp nhàng là nhịp nhàng bay lượn thờ lôn 

hồn thơ
ạ ời… ạ ơi
trong cái thế giới bị là phẳng này khó chơi quá.

___________
[1] Ý thơ Dương Tường 




Bullshit poetry
Hey poetry why don’t you grow wings to …
fly
what a screwy way to fly
up & sideway & down
& in & out
gliding then climbing then diving
topsy turvy
tumbling tumbling tumbling
terribly (poetry as a glidder) 


amid the moaning of a young girl dreaming of her beloved countryside while
stealthily selling her body in a sumptuous guesthouse
the wail of the wrongfully condemned prisoner banging
his head for twenty years on the metal bars
the stench of the river in the city
a skeleton waiting to die (of aids)
the arrogant face of the filthy rich son-of-a-bitch
(he doesn’t steal, he just grabs)
the intellectual covering his ears
the writer writing in fear
the vain and the empty-minded proclaim themselves kings
& the iron fist rules

that’s why your poetry [satyr’s] must crawl on all fours
must beg for a living
in torn clothes & wearing shit-soaked shoes
must steal food (steal, not rob)
howl like a stray dog
puke up all sorts of poison (the plague)

they say poetry must stand on the side of tears (above the magnificent)
but … beware of the fake ones
for humanity of today has no need for tears
would rather party all night
would brush things off & keep silent


o poetry sad poetry
where to can a messed up piece of shit fly & call it home
a messed up piece of shit has just a top
but no wings

sleep well my piece of shit
dream sweet dreams
grow yourself a pair of wings so clumsy so sorry at first
but soon swinging to rhythms
of the vaginal soul

dream sweet dreams
in this flat world it’s not easy to play. 


Nguyễn Đình ChínhTrần Đán chuyển ngữ
Trích thi tập Chẹc Chẹc
Nguồn: Tác giả gửi

Bạn đọc và Đêm Thánh Nhân





  Trò chuyện với “đêm thánh nhân”*

 Hoàng Hữu Các
Căn phòng khách của Nguyễn Đình Chính ở 11 Cao Bá Quát bây giờ ngày trước là một xó bếp, lợp phi-brô-ximăng, ở đó có kê một cái bàn nhỏ và một cái giường phản kiểu giường có chân mễ của bộ đội. Đó là nơi trong khuya khoắt Nguyễn Đình Chính viết Đêm Thánh Nhân.
Chính viết nhanh, ngòi bút cuống quít lia trên mặt giấy. Sau mỗi đêm ram giấy in báo Liên Xô trên bàn vơi đi nhiều và những trang viết bị loại bỏ gạt xuống đất cũng nhiều. chính không tỉa tót, tìm từ này, thay chữ nọ. Với Chính, văn chương, hỏng hay được là từng chương, từng mảng chứ không phải từng chữ.
Mỗi cuốn tiểu thuyết là cả một núi công việc, Chính cắm cúi làm một mình, một nhà văn kiêm nhà biên tập, kiểm duyệt và kiêm luôn cả việc tổ chức in ấn, phát hành. Có khi sáng dậy,Chính khoe với tôi: “Đêm vừa rồi viết được hai chương nhưng một chương phải viết lại, để như thế chắc không in được”.
Sách in ra tất cả các trang không có dấu phẩy. Đó không phải là lỗi nhà in. Trên bản thảo của Chính nó vốn đã như thế. Sau này, có một biên tập viên, do yêu quý tác giả đã còng lưng cắm cúi suốt mấy ngày đến đặt lại các dấu phẩy sau các mệnh đề và Nguyễn Đình Chính lại phải mất mấy ngày cặm cụi xóa những dấu phẩy kia đi.
- Đêm Thánh Nhân nói về cái gì?
Một trăm bạn đọc thì có 99 người hỏi câu đó. Điều này chẳng có gì ngạc nhiên. ở trường tiểu học, khi soạn bài tập làm văn, học trò được dạy điều đầu tiên là “tìm đại ý”. Học lên các lớp trên thì được dạy cách “tìm tư tưởng chủ đề của tác phẩm”. Bao thế hệ đã được dạy như thế và nó đó là trở ngại chính khi họ đọc Đêm Thánh Nhân. Nghệ thuật như ánh nắng, như giọt mưa. Nắng nói gì? Mưa nói gì? Chả nhẽ ánh nắng chỉ nói ấm và giọt mưa chỉ nói mát. Nhân vật của Đêm Thánh Nhân là bác sĩ Cần, một người chuyên trông coi các xác chết, có nhiều người tình nhưng lại bị liệt dương. Những điều ông Cần nói, những điều ông Cần làm đều nửa mê nửa tỉnh, nửa thực nửa hư và thật khó đặt vào một khuôn thước nào.
       Tôi hỏi Nguyễn Đình Chính:
- Người ta nói Đêm Thánh Nhân có hằng số ảo lớn, vậy tính hiện thực của tác phẩm có bị nhẹ đi chút nào không?
- Hiện thực nằm ngay trong cái hằng số ảo ấy. Theo Chính, hiện thực là cái mà người ta cảm thấy chứ không phải cái ta nhìn thấy. Những gì ta nhìn thấy bằng mắt có lẽ chỉ là cái hiện diện chứ chưa phải là hiện thực.
Những ngày viết Đêm Thánh Nhân kỷ niệm chiến tranh ồ ạt hiện về với Nguyễn Đình Chính. Nguyễn Đình Chính thường kể về những chuyện đó - kể liền mạch không ai phanh lại được. Đó là những câu chuyện rất xúc động, bản thân câu chuyện thật đã có cái gì đó lay động tâm hồn ta. Song, trong Đêm Thánh Nhân không hề có những câu chuyện đó. Nhưng không phải vì thế mà cuộc chiến tranh chống Mỹ mà Nguyễn Đình Chính đã từng nếm trải với tư cách là một người lính lại không phả vào Đêm Thánh Nhân, nó còn rất đậm, rất dữ dội nữa là đằng khác.
Đêm Thánh Nhân là cuốn sách khó đọc. Ai đã đọc một trang thì đều muốn đọc tiếp những trang sau. Người đi họp mong chóng tan họp, người đi làm mong mau hết giờ để về nhà đọc tiếp. Số phận các nhân vật lôi cuốn ta, mạch văn, mạch truyện lôi cuốn ta, nhưng khi đọc xong 600 trang sách (tập I) ta lại rơi vào một trạng thái mơ hồ, hình như khó nắm bắt được một cái gì rõ ràng, tất cả đều hư hư thực thực. Ai cũng có thể đọc một mạch hết 600 trang sách nhưng thật khó đọc Đêm Thánh Nhân cho dù người đó là một nhà văn, một nhà thơ, một nhà văn hóa hay một nhà triết học. Cái mà ta có được sau khi đọc Đêm Thánh Nhân có lẽ chỉ là những cảm nhận.
- Trong tập II, số phận của bác sĩ Cần như thế nào? – Tôi hỏi Nguyễn Đình Chính.
- Ông ta gặp một người đàn bà Nam Bộ rất nhiều con. Một phần ba những đứa con của bà chết trong làn đạn của quân ta (vì họ ở phía bên kia chiến tuyến). Một phần ba nữa chết trong làn đạn của quân địch (vì họ ở bên này chiến tuyến). Số còn lại thì giết nhau vì ganh ghét, vì đố kị, vì hãnh tiến… và cũng chết hết. Thế là bà mẹ ấy trắng tay. Vì không còn đứa con nào nên bà ấy vẫn khao khát được làm mẹ, đã 70 tuổi rồi mà bà vẫn như thiếu nữ, da thịt vẫn tươi tắn, mắt vẫn đen láy, vú vẫn tròn căng, rắn như đá cẩm thạch, mái tóc vẫn xanh mướt, bà ấy yêu bác sĩ Cần lắm, nuôi nấng, chăm sóc, chiều chuộng. Nhưng bác sĩ Cần lại bất lực. Tuy thế, bà ấy cũng không nản. Cạnh đó có một khu rừng cùng một bầy vượn. Con vượn đầu đàn là một gã đực rựa vô địch, chấp hết thảy nhu cầu của đám vượn cái. Bà ấy vào rừng, tha thẩn cùng bầy vượn. Hễ con vượn đực ăn lá gì thì bà hái ngay lá ấy, nó ăn quả gì thì bà hái ngay quả ấy đem về làm thuốc cho ông Cần. Nhưng bác sĩ Cần vẫn không khỏi liệt dương. Vậy mà không hiểu vì sao bà ấy lại có thai. Sau chín tháng mười ngày bà ấy đẻ. Vừa vỡ ối xong, bà ấy bỗng như người lột xác. Cái lốt thiếu nữ biến đi đâu mất, hiện nguyên hình một bà già 70 tuổi, tóc như mây, da thịt nhăn nheo, vú lép kẹp như cái vỏ thị.
- Như thế thì cuộc đời của bác sĩ Cần vẫn còn dài?
- Chắc chắn ông bác sĩ dở hơi này sống dai như đỉa cho đến hết trang cuối cùng của quyển sách này.

Nhà văn H.H.C
Hà Nội – Xuân 2000.




“Đêm thánh  nhân “  cõi nào  giữa trần gian

Hàn QuangTự

Cảm tưởng đầu tiên khi đọc xong Đêm Thánh Nhân của Nguyễn Đình Chính cho ta một hình ảnh của một sân khấu trên đó diễn viên là những nhân vật nửa người nửa ngợm:
Kẻ thì cụt cả chân lẫn tay, còn lại duy nhất cái thân… cóc.
Kẻ thì đẻ ra quái thai 3 chân 4 tay lều nghều, loằng ngoằng như những cái vòi của con bạch tuộc.
Kẻ thì hiện nguyên hình ma cô, ma cậu, lưu manh, côn đồ, đĩ đực, đĩ cái…
Kẻ thì khóc dở, mếu dở, nửa tức, nửa cười, mặt mày méo mó.
Đó là những con người, sự kiện có thể đã xảy ra ở đâu đó, ở rất xa, và cũng có thể là rất lâu rồi. Nhưng khi gom chúng lại một chỗ và cho chúng nhảy múa, trông chúng thấy khiếp đảm. Nó gợi lại cho ta hình ảnh địa ngục trong các truyện cổ dân gian Việt Nam.
Và lẽ dĩ nhiên một số người rất dị ứng trước màn diễn như vậy.
Đơn giản là tâm trí của họ ưa cái thiện, ghét cái ác. Họ sẵn sàng chấp nhận những hình ảnh của thiên đàng, nhưng cảnh xuống địa ngục thì khó chấp nhận. Và rất có thể họ sợ, khi xem những điệu vũ quái đản đó, quái nhân sẽ nhảy ra vồ lấy họ. Các quái vật ở trên sàn diễn của Nguyễn Đình Chính xem ra có cái thế hung hăng và ngông cuồng lắm.
Rồi tiếng la hét, đánh cồng, đánh chiêng, đập bàn, đập ghế, quỳ bò lê lết, ăn xin, ăn mày, liếm gót, huyênh hoang, khoác lác… nghĩa là đủ các trò đời.
Một lý do đơn giản nữa là họ giật mình (người có tật vẫn thường hay giật mình). Các quái vật trong lúc trình diễn các vũ điệu tự chọn sao trông giống họ đến thế. Cứ như hai giọt nước vậy.
Vậy thì không thể là một màn trình diễn để mua vui cho thiên hạ được. Song khi ta để tâm xem kỹ thêm một chút nữa, ta nhận ra đám nửa người, nửa thú đó chính là loài mặt người dạ thú sống chen lẫn trong xã hội để hù dọa, ăn hiếp, cướp bóc, làm tình, làm tội những kẻ yếu bóng vía. Và Nguyễn Đình Chính đã dùng ngòi bút của mình để lột tả những dã tâm đen tối của chúng. Như vậy, thông qua tác phẩm Nguyễn Đình Chính đã phơi trần bộ mặt thật của những kẻ không có văn hóa và trình bày dưới dạng tác phẩm văn học. Những kẻ dị ứng với tác phẩm Đêm Thánh Nhân của Nguyễn Đình Chính không phải lo và giật mình đến thế. Vì những sự kiện, địa danh, tên nhân vật trong truyện đều phi thực tế, phi địa lý và bất tiện dụng. Như vậy là ảo tưởng, Không một ai bị phạm vào danh dự, không một địa phương nào bị bôi xấu, không bóng gió một việc gì. Như vậy là mơ hồ, hai yếu tố ảo tưởng và mơ hồ rất đậm đặc trong tác phẩm. Đáng lẽ điều đó phải làm cho tác phẩm trở nên không giá trị. Nhưng khi đọc lại, ta thấy nó có sức gợi cảm lạ kỳ. Hình như cuộc sống của các dị nhân trong truyện có nguồn gốc từ xa xưa, hình như ta có nghe ở đâu đó. Hình như những hình bóng vật vờ, lởn vởn trong truyện ta thấy ở chỗ này chỗ khác. Những điều làm ta rất ghê khiếp hình như nó là một thế lực mà ta phải kiêng sợ. Như vậy, Nguyễn Đình Chính đã đặt ra một vấn đề triết học: nhân bản – con người trình bày dưới dạng văn học.
Những điều mà Đêm Thánh Nhân trình bày liệu có làm hổ thẹn ai đó không? Không thể biết \.
Thực chất Đêm Thánh Nhân không phải là sân khấu của các quái nhân mà đó là phiên tòa của địa ngục trần gian.
Văn học Việt Nam từ xưa vẫn có thế mạnh miêu tả cảnh bồng lai ở trên trời hoặc cảnh báo ân oán dưới địa ngục. Nhưng thật lạ ở đời nay các thi sĩ vẫn tiếc cảnh trăng, núi, gió, mây, tiên nữ, bồng lai. Đó là cảnh cung trời Đâu-suất. Họ muốn thăng thiên. Nhưng tại sao họ không dám nhìn xuống địa ngục. Thiên đàng và địa ngục là hai mặt đối lập song song tồn tại như hai mặt của một tờ giấy, có cái này mà không có cái kia. Đấy là nét đặc trưng rõ nhất trong văn hóa cổ điển của chúng ta. Và nếu chúng ta tìm lại, chúng ta sẽ thấy những áng văn hay nhất đều thuộc về những đề tài này. Đọc Đêm Thánh Nhân ta thấy các âm hưởng đó vang lên, và ta không thể không rùng mình sợ hãi. Bất ngờ, ta nhận ra tâm linh đang chuyển động. Không như các thi sĩ đời nay, Nguyễn Đình Chính đã chọn con đường đi xuống địa ngục. Hay đúng hơn là anh chọn bác sĩ Trương Vĩnh Cần đi xuống thay anh.
Là một trí thức hiền lành, yêu vợ, bác sĩ Trương Vĩnh Cần đang sống yên ổn, bình yên thì bỗng dưng mắc chứng liệt dương. Đó là trời giáng họa hay đúng hơn là    Nguyễn Đình Chính thay trời giáng một đòn cân não vào tâm hồn bác sĩ Trương Vĩnh Cần. Cái kiểu trong họa có phúc là quyền năng của trời đất, chuyển họa thành phúc lại là tài năng của con người. Nhưng đối với Trương Vĩnh Cần thì họa rồi vẫn không có phúc vì Trương Vĩnh Cần là người có tội mà khi đã có tội thì dù là tài năng cũng khó được đắc dụng ở đời. Cái tội lớn nhất của Trương Vĩnh Cần là tội hèn nhát. Đó là cái tội trời không dung, đất không tha của một kẻ được coi là đàn ông. Nhưng dù là người có tội cũng có chỗ đắc dụng của nó và Nguyễn Đình Chính đã chủ ý dùng Trương Vĩnh Cần đi gặp các tội nhân. Để đúng như ý của người xưa: Có văn phải biết dụng võ.
Để thông hiểu nỗi nhọc nhằn của thuộc hạ, Nguyễn Đình Chính đã cho Trương Vĩnh Cần được truy hoan với một cô gái rừng chưa tròn 16 tuổi trước khi đi học. Đó là ân huệ riêng của Nguyễn Đình Chính ban cho Trương Vĩnh Cần. Còn người đời với các lề luật riêng của mình thì khép Trương Vĩnh Cần vào trọng tội: Hủ bại, hủ hóa.
Bác sĩ Cần là người không thông hiểu luật trời, cũng như không thông hiểu lòng người nên đã hóa điên lên giữa miền hoan lạc và tội danh.
Người đời nói chung vẫn là vậy. Cái trời ban cho họ đâu biết, cái tội mang tiếng ở đời dễ gì một sớm một chiều gỡ cho ra.
Trong cái ngờ vực của một người ngô nghê, Trương Vĩnh Cần đã đi trong đời với một tâm thức lúc tỉnh lúc mê, gặp hết người này người khác, nghe hết chuyện này đến chuyện khác, để dần dần vỡ ra, dần dần nhận ra: ở trong đời còn có trời đất và cả âm ti địa ngục. Đó là cái lý chính để Nguyễn Đình Chính dệt nên tác phẩm của mình. Nhưng dù lý thuyết có tuyệt vời đến đâu nếu không có nghệ thuật thì tác phẩm cũng là thứ cặn bã của lý trí mà thôi. Với sự hiểu biết sâu sắc về luật cân bằng âm dương, cùng với nghệ thuật của cú pháp, Nguyễn Đình Chính dùng tài năng của mình đã dệt nên một tác phẩm hoàn chỉnh miêu tả công đường dưới địa ngục.
Câu hỏi được đặt ra là: Trong tác phẩm có Diêm Vương đâu? Đao phủ đâu? Có vạc dầu đâu?…
Tất cả có hết, từ Diêm vương đến Đao phủ. Tất cả không thiếu một ai, không thiếu một thứ gì. Tất cả chứa ở trong đầu Trương Vĩnh Cần cũng như trong đầu mỗi độc giả chúng ta. Diêm vương là khái niệm của người xưa để chỉ hỏa ngục mà tượng trưng bằng vạc dầu sôi và lửa. Cho nên khi ta cáu giận ta có cảm giác của sự nóng bỏng sôi sục. Đó chính là lửa hỏa ngục đang dâng lên trong ta. Như vậy, Diêm vương là khái niệm tiêu hủy thể xác. Cho nên ta đâu ngờ: trong đầu ta vẫn thường xuyên xuất hiện nhiều ước mơ. Rồi trí óc giúp ta hiểu rằng nếu ta gắng sức, ta sẽ đạt được những điều cao đẹp đáng quí và ta nhận ra có những điều nếu ta phạm vào ta sẽ bị khép vào hình phạt. Như thế ngay trong đầu ta con đường thiện và con đường ác đã bày hiện. Vấn đề là ta sẽ chọn con đường nào, nếu ta chọn con đường ác thì tất yếu đó là con đường dẫn xuống địa ngục.
   Nguyễn Đình Chính đã sai Trương Vĩnh Cần đi gặp các tội nhân để ta thấy các tội danh của chúng.
Do đó, mặc dù địa ngục là thế giới âm, đời là dương gian. Âm dương cách trở không dễ gì biết được nhau. Nhưng với việc để một người mắc chứng tâm thần đi lang thang lúc tỉnh, lúc mê, Nguyễn Đình Chính đã rất có lý làm cho âm dương đan xen vào nhau trong trạng thái đồng đồng, cốt cốt, tỉnh tỉnh, mê mê của Trương Vĩnh Cần. Lúc tỉnh,  Trương Vĩnh Cần nghe các vui sướng, khổ buồn của các tội nhân, khi mê quá khứ đó mới là nguyên nhân dẫn đến sự thọ lãnh các nghiệp quả, nhân duyên: ác giả, ác báo, luân hồi, bể khổ của kiếp người trầm luân. Đó mới thực là cái vòng khép kín của một kiếp người trong thế giới âm dương ở mảnh trời Nam đất Bắc này. Và cũng như thế ân oán vay trả đã được phơi bày.
Trong Đêm Thánh Nhân, Nguyễn Đình Chính đã sai Trương Vĩnh Cần đi bắt các tội nhân về quỳ chung trong một công đường: trong cái đầu của Trương Vĩnh Cần. Những kẻ bướng bỉnh, ương ngạnh, khó dạy, khó uốn nắn. ở đó, chúng ta nghe thấy có tiếng rên rỉ, tiếng oán trách, tiếng quằn quại vì dát, bỏng… với một thủ pháp như vậy, Nguyễn Đình Chính đã bày trước mặt độc giả những tội ác dẫn đến địa ngục, cũng như cái cần phải trả của một kẻ tội lỗi muốn làm lại cuộc đời để trở nên lương thiện. Để cho lời của cổ nhân được ứng nghiệm:Thiên đàng tại tâm  .Địa ngục tại tâm
Đó là điều rất kỳ diệu, và đó cũng là lần đầu tiên văn học Việt Nam hiện đại có thể giúp người đọc giơ tay chạm tới địa ngục mà không hề sợ bị tổn thọ. Đó cũng là điều mà những nhà văn chúng ta qua Nguyễn Đình Chính có thể tự hào : rằng thế giới nội tâm là thế giới mà chỉ có nghệ thuật văn chương mới miêu tả được. Đó phải là vinh hạnh riêng cho các nhà văn. Vì không một nghệt thuật nào có thể làm thay nó được.
Lại nữa, cái chìa khóa để Nguyễn Đình Chính có thể dắt bạn đọc hào hứng đi hết 600 trang sách mà không biết mệt mỏi, đó là nhân vật Trương Vĩnh Cần. Như đã nói y là người có tội, nhưng y cũng là người vô can. Vì y có liệt dương đâu, y chỉ liệt dương với mụ vợ già nua lúc nào cũng chỉ lên mặt dạy chồng. Mụ đàn bà đó đã trở thành đàn ông từ lâu rồi. Trong khi đó cái khao khát làm tình của người đàn ông đã dày vò làm khổ sở Trương Vĩnh Cần và y đã phạm tội. Nguyễn Đình Chính đã thấu hiểu, chính vì thấu hiểu mà thông cảm, chính vì thông cảm mà  Nguyễn Đình Chính đã tìm cách gỡ tội cho Trương Vĩnh Cần. Cho nên trong 600 trang sách ta luôn thấy sự hóa thân của Nguyễn Đình Chính vào  những kẻ cặn bã của xã hội để giúp Trương Vĩnh Cần đối mặt với tội lỗi, để giúp Trương Vĩnh Cần nhận ra…
.
Nhưng tâm hồn Nguyễn Đình Chính phức tạp hơn chúng ta tưởng. Với việc để Trương Vĩnh Cần truy hoan với Ma Thị Thảo 16 tuổi. Trong suốt câu chuyện, Nguyễn Đình Chính luôn đặt trong ta câu hỏi: Có đáng ra tay cứu vớt một con người tội đến như thế không? Một con người hủ bại đến như thế không? Và trong suốt câu chuyện, Nguyễn Đình Chính luôn lật ngược lại vấn đề cho ta nhận ra rằng cái khát khao được lưu truyền giống nòi vốn là bản tính tự nhiên của con người. Đó là công cuộc văn hóa. Như thế là Trương Vĩnh Cần là người có văn hóa bị bóp nghẹt. Và y đã gây tội với cô bé Ma Thị Thảo. Oán như thế có thể gọi là đã trả xong, nhưng ân thì chưa. Đó cũng là vòng ân, oán, vay, trả, luân hồi Đó là mũi dao chích vào lòng tự trọng của ta. đó là ảo giác, nó đọng lại trong tâm hồn ta, tuy ta luôn nghĩ là ta sẽ không làm như thế. Nhưng trong tâm thức ta thèm khát điều đó.Ta phải từ chối nó chỉ vì lề luật xã hội không cho phép. Những mâu thuẫn tình cảm, lý trí, đó là một thủ pháp: trong đó tác giả đối thoại với độc giả, độc giả đối thoại với tác giả, rồi bạn đọc nhận ra cuộc đời của các nhân vạt trong truyện và cuộc đời của bạn . Nguyễn Đình Chính đã đi đến lô-gích tâm lý hiện đại: phân-tâm-học-tâm-lý. Điều đó buộc chúng ta phải im lặng như ta vẫn thường tỏ thái độ im lặng trước những gì quá bất ngờ. Nó mới mẻ quá, lớn quá, ta bị ngập trong cảm giác rờn rợn khi ta nhận ra vũ trụ này bao la quá, náo nhiệt quá, còn ta đã cô đơn từ lâu rồi, từ rất lâu rồi! Như Nguyễn Đình Chính đã nhận ra trước ta.
        Đêm Thánh Nhân là một cuốn sách được đọc một cách âm thầm như số phận nó phải có. Những ảo giác nó gây nên làm linh hồn ta rung động. Những lời thoại của các nhân vật như những ánh đèn đỏ trong đêm tối giúp ta nhận ra lối đi, những ký ức từ dĩ vãng được dựng dậy làm bừng tỉnh tâm thức ta. Tất cả những điều phức tạp này có được là nhờ nghệ thuật ngôn từ sành điệu của Nguyễn Đình Chính. Đôi chỗ ta thấy anh đã cố tình bỏ quên những dấu phẩy, dấu chấm, những đại từ, trạng từ… Đó không phải là sai sót, mà đấy chính là nghệ thuật đã làm chủ kỹ thuật. Chính lúc đó ta thấy kỹ thuật chỉ là thứ dụng cụ phục vụ mục đích của nghệ thuật. Người nghệ sĩ thích quăng đi lúc nào thì quăng. tôi không có ý khen ngợi điều này vì đó không phải là điều hay cho số đông các nhà văn đang bì bõm học viết. Không phải là người phi thường không làm được điều đó mà kẻ giả cầy thì quá đông. Điều mà khiến tôi ngưỡng mộ là thái độ của anh. Khi gọi các tội nhân đến công đường, Nguyễn Đình Chính không đưa ra một hình ảnh Diêm vương, hay một kẻ luận tội nào. Làm như thế Nguyễn Đình Chính đã tự hạ mình xuống ngang hàng với độc giả, nhường phần phán quyết cuối cùng cho trí óc minh mẫn của bạn. Nhưng chính vì lẽ đó mà chúng ta phải nghiêng mình, khi ta nhận ra rằng ta không đủ sức phán quyết, ta bắt buộc phải tìm đến anh. Người đã cho ta biết thế nào là ân, thế nào là oán thì người cũng sẽ cho ta biết thế nào là công bằng. Đó là lý do tại sao ta phải lùi lại nghiêng mình tỏ lòng tôn kính để được chiếu cố.
H.Q.T - Hà Nội – Việt Nam 2000